Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN _ Lê Tùng Sơn_Đỗ Đăng Đích


           
  

    Trái Tim mách bảo


Mối tình của em

Tình bay vút như lão gia khờ khạo.

Mối tình đầu say đắm

Mãi là của Anh đằm đằm

Mối tình đầu bởi mãi yêu anh

Mối tình mà rồi bà lão khát khao

Khi mỗi lúc lòng  tự hào kiêu hãnh

Một thiên thần mộng mỵ xa xăm

   

Nếu trong Em mùa Thu vàng rơi rụng

Lá vàng rơi dưới trăng rằm xơ xác

Ánh trăng  vương nơi cầu vai chiến thắng

Cánh  sao rơi , tiến sỹ cũng nửa vời

Đời  cho hết

Và Em nhận hết

Chẳng ngày vui trong chiếc xe hoa

Mỗi ngày vui khi nước mắt nhòa

Bao tháng buồn trong nụ cười tươi

Tình vẫn thắm lời ca vời vợi

Ôm tình Anh Em nhặt cánh sao rơi

Còn lấp lánh dưới  trời trăng rọi

Và Anh đứng ôm bờ vai em thổn thức nghẹn lời

Mối tình đầu khi chiều lặng chìm sâu

 

Bởi tình Em  như tim mình đã bảo

Bởi  lời Anh trên trang viết đầu tiên

Lúc ban đầu và mãi mãi yêu anh .

Tình em đó cho chiều Thu vàng mãi

Chẳng cạn ngày tàn xuân bước giữa đông sang ./

 

               Viết ở Nam Định ***********

*****************Aprril 2103**********

    
TÌNH EM
 
     Tình yêu như sao bắc đẩu em ơi !
Quê hương đất nước và chiều bên Em ,
Ngày xa gió núi điệp trùng
Chờ anh không đặng khôn cùng chờ mong
Hành quân gối một bóng hồng
Cheo veo đầu súng môi hồng canh khuya
Tình ai thắm tình ai kia
Ngày về xa lắc thuyền kia bến nào !

Trập trùng đỉnh núi non cao
Tình em lấp lánh bay vào trang thơ
Cho dù người có thờ ơ
Tình yêu nước chảy bến bờ nào đâu
Biển sông chỗ cạn nơi sâu
Tình không nông cạn một màu tím nhung ./.
***************

  HOÀNG HÔN CAO NGUYÊN

Hoàng hôn cao nguyên

Cũng biêt rằng yêu đắm đuối nhiều

Mối tình tha thiết biết bao nhiêu

Cao nguyên rừng núi trời xanh thẳm

Lạnh giá đêm đông một thoáng chiều

 

Em bảo những đêm buồn tha thiết

Ôm bao mộng đẹp trong tình anh

Đắm đuối bên anh mùa thu lạnh

Lá vàng xanh lại mãi màu xanh

 

Em buông chiều xuống trong mộng ấy

Có phải không anh mỗi lá cành

Rung rinh thoang thoảng hoa ngan ngát

Thấp thoáng hình anh in giữa mành

 

Nhưng rồi em sợ mùa đông lắm

Tình cũng tan tành vỡ mộng thôi

Tình anh có thắm xa vời vợi

Giọt lạnh ,sương rơi một góc trời ./.

 

             ******N. Đ City

              April 22, 2013********

                           NĂM THÁNG  KHÔNG  Q1UÊN 
 

 

 
       NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN .
NƠI BIỂN XA
 Tản văn từ một Bài thơ Live On Line Netlog
                                                                                     
Rừng vàng biển bạc Em ơi !
Màu xanh áo lính mây trời xa xăm
Mùa Xuân với ánh trăng rằm
Bên cầu cảng vắng đằm dằm tình em
Nghe trong sóng vỗ êm đềm
Trăng ngân tiếng gió qua thềm tóc mây
Sóng xô lòng những dâng đầy
Tình Em vời vợi sao dầy mênh mang ././ .
Thơ với RỪNG VÀNG
 
 
Một cô gái trên Phố cổ Hội An  __ nơi đã từng là điểm Pháo kích của Thực dân Tây Ban Nha khi đi tìm thuộc địa vào đến Cam Ranh và Đà Nẵng __- em đọc lại bài thơ lần nữa và cái cảm của lần đọc lại mới thấy bài thơ thật hay ; nhưng đâu có biết cái hồn và cái tình của bài thơ đã hun đúc từ những năm tháng  chiến tranh khốc liệt trong cuộc Cách mạng giải phóng Dân tộc Việt Nam ta suốt nửa thế kỷ thứ 20 , biết bao máu và nước mắt chan hòa trên mảnh đất thân yêu,nhỏ bé này trải dài uốn mình dọc theo Biển Đông hơn 2200 km   .    Cuộc cách mạng giải phónpDân tộc của chúng ta không hề thơ mộng nhưng những người lính trẻ của Các quân binh chủng Việt Nam nửa cuối thế kỷ thứ 20 đã sống , chiến đấu và học tập rất kiên cườngvà cũng rất lạc quan , thơ mộng ; khó khăn gian khổ chồng chất , nối tiếp năm dài ngày ngắn quanh sự rình rập của đan bom không hủy diệt được tuổi xanh của những thanh niên Việt Nam sống thanh bạch mà mộng mơ . ____Bài thơ của một Kỹsư quân sự V.N  __ học Viện Kỹ thuật Quân sự V.N  khóa thứ nhất .
      Quả thật như điều đã viết , đọc lại lần nữa và là người trong cuộc ta mới thấy rừng , biển , tình yêu
Rừng vàng biển bạc Em ơi !
Màu xanh áo lính mây trời xa xăm
Mùa Xuân với ánh trăng rằm
Bên cầu cảng vắng đằm dằm tình em
Nghe trong sóng vỗ êm đềm
Trăng ngân tiếng gió qua thềm tóc mây
Sóng xô lòng những dâng đầy
Tình Em vời vợi sao dầy mênh mang ././ .
Thơ với RỪNG VÀNG



Một cô gái trên Phố cổ Hội An __ nơi đã từng là điểm Pháo kích của Thực dân Tây Ban Nha khi đi tìm thuộc địa vào đến Cam Ranh và Đà Nẵng __- em đọc lại bài thơ lần nữa và cái cảm của lần đọc lại mới thấy bài thơ thật hay ; nhưng đâu có biết cái hồn và cái tình của bài thơ đã hun đúc từ những năm tháng chiến tranh khốc liệt trong cuộc Cách mạng giải phóng Dân tộc Việt Nam ta suốt nửa thế kỷ thứ 20 , biết bao máu và nước mắt chan hòa trên mảnh đất thân yêu,nhỏ bé này trải dài uốn mình dọc theo BiểnĐông hơn 2200 km . Cuộc cách mạng giải phónpDân tộc của chúng ta không hề thơ mộng nhưng những người lính trẻ của Các quân binh chủng Việt Nam nửa cuối thế kỷ thứ 20 đã sống , chiến đấu và học tập rất kiên cườngvà cũng rất lạc quan , thơ mộng ; khó khăn gian khổ chồng chất , nối tiếp năm dài ngày ngắn quanh sự rình rập của đan bom không hủy diệt được tuổi xanh của những thanh niên Việt Nam sống thanh bạch mà mộng mơ . ____Bài thơ của một Kỹsư quân sự V.N __ học Viện Kỹ thuật Quân sựV.N khóa thứ nhất .
 , tuổi trẻ của trí thức quân đội Nhân dân Việt Nam trong khóa đầu tiên của quân đội ta nếm trải gian khổ trên sông dưới núi  rấttrí tuệ , giỏi giang __chiến sỹ ưu tú của quân đội nhân dân của toàn quân được chọn về chính thức thành lập và là nền móng của học viện hôm nay . Họ từ núi rừng , biển cả , trong hải,lục,không quân buông sung xẻng bộ binh , rời mâm pháo , xa biển cả,hội tụ về bãi Phúc Xá ven Sông Hồng để vào một mặt trận mới , không tiếng sung nhưng trên mặt trận này , có một anh sỹ quan trải qua kháng chiến 9 năm đã phải thú nhận rằng Trong chiến đấu ,trong gian khổ tôi chưa hề đầu hàng , nhưng nay trên sách vở , trên ghế trường Đại học tôi đầu hàng . Bởi vì , dù trong chiến tranh khốc liệt , trở thành một kỹ sư quân sự trong một nước nhỏ yếu và vũ khí còn quá thô sơ so với ngay cả thời kỳ Thế chiến thứ 2 , vẫn phải đạt đến ngang tầm Quốc Tề hiện đại , cho nên thử thách trí tuệ , lòng nhẫn nại chinh phục khoa học kỹ thuật không phải chỉ có long quả cảm mà thôi .
    Những người chiến sỹ trẻ được chọnlọc đưa về Trường từ rừng vàng , biển bạc đang và vẫn mênh mang vời vợi với tình yêu “thời con gái “ như nhữnglớp sóng xô , gió lùa trên từng trang Toán Lý màta lúc bấy giờ trong quân đội bắt đầu bằng con số 1 .
    Bài thơ được víết bởi một kỹ sư quân sự về trường từ Hải Quân Việt Nam nên mang sắc thái của biển cả trên chiến hạm nhỏ bé năm xưa .
      Không biết những dòng trên có mang lại được gì , nhưng trong tôi đang đầy ắp và tràn ngập nỗi nhớ về những tháng năm trên ghế Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự Việt Nam , bóng dáng , khuôn mặt đồng đội và tính cách tài năng , năng lực của Họ vẫn hiện rõ trong trí óc khi đọc những dòng tên trong danh sách khóa 1  C 213 Đại Học Kỹ thuật Quân sự Việt Nam cũng như bóng dáng Giảng viên Đ.H Bách khoa H.N sang , đến những Giảng viên trẻ Từ nước ngoài về  , cùng với tình Thầy trò đằm thắm đồng cam cộng khổ những khi khó khăn về vật chất cũng như khó khăn trong học tập , một tình đằm thắm Đồng đội chiến sỹ trên một chiến hào mai phục . Và , chính trong những canh thâu đèn dầu mũ rơm phòng đạn bay tới đã chứng minh đức tinh kiên cường của những người Cộng Sản chân chính dìu dắt chính trị cho những thanh niên chúng tôi còn đang vời vợi mênh mang”tình em “ xa thăm thẳm .
       Tất cả , chiến tranh , trách nhiệm , nghĩa vụ và lòngsay mê học  đã đưa đến cho chúng tôi ,cùng với sự chăm sóc của Bộ Quốc phòng bấy giờ đã tạo nên cho chúng tôi một lòng trung thành với Tổ quốc , với nhân dân và cũng đã được nhân dân yêu mến và tin cậy .
   Khóa1 của học viện hôm nay cất đầy giai thoại của lớp chiến sỹ từ 3 quân chủng về trường khác hẳn những giai thoại trong mọi trường Đại học và ngay cả trong Học viện hôm nay ___ Những giai thoại lãng mạn trẻ trung trong khói lửa chiến tranh trong Trường Đại học K.T quân sự tạo thành ký ức không quên của tình đồng đội đồng chí trên mặt trận khoa học kỹ thuật đầy gian lao trong một thời chinh chiến giải phóng dân tộc .
      Và , làm sao có thể không tự hào khi bạn bè , đồng đội tôi hôm nay , giáo viên của tôi hôm nay là những tiến sỹ ,tiến sỹ khoa học – tướng lĩnh , sỹ quan trung cao cấp trong quân đội . chúng tôi đã đi hết và trọn vẹn cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và xứng đáng người Cộng sản chân chính trong hòa bình tững bước đưa đất nước đến một khả năng quân sự vệ quốc vững bền .
   Hơn thế nữa , chắc chắn tôi và những đồng đội tôi năm xưa khẳng định rằng : Vũ khí , kỹ thuật quân sự hiện đại thời nay , trong tay quân đội Nhân dân Việt Nam cũng sẽ không kẻ xâm lăng và thế lực nào chiến thắng nổi , và rõ ràng Đại Học Kỹ thuật quân sự Việt Nam có một tầm quốc tế không kém các kỹ sư quân sự toàn cầu ___ Niềm tự hào của nhân dân việt nam đã từng nuôi nấng , tin tưởng và bảo vệ lớp sỹ quan kỹ thuật đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam chính là sức sốngcủa tôi và  đồng đội tôi hôm nay .
            Chắc các bạn chưa mấy tin những dòng đã viết trên,và chắc chắn tôi và đồng đội sẽ có các bài viết tiếp theo , như thế qúakhứ hào hùng của Quân đội Nhân dân việt Nam không thể nào chối cãi ./.
           
      Đại tá Nguyễn VănChương và các Sỹ quan Trung cấp – Kỹ sư Quân Sự v.N
        Ảnh chụp tại Nam Định 2012 November  ( Chương . Đích , Long .Trù )
             
 
  Hành trình xuyên Vit
Và cuc Tình  l d .
 
“Ví không có cảnh đông tàn
Thì dâu có cảnh huy hoàng ngày xuân “
 
Dù thế nào  , cũng cũng không thể phủ nhận sự phát triển và tiến lên của Việt Nam chúng ta ngày hôm nay , tôi đi một vòng từ Nam định – Hà nội –Sài gòn – Hải phòng –Hà nội ---Nam Định ,những chuyến bay , những chặng đường xe con không là ngắn , chỉ khi ngồi lại mà ngẫm nghĩ mới thấy chặng đường và thời gian của hôm nay và hơn 45 nămqua như một huyền thoại bởi vì khó có thể tin khi mà ai đó chỉ biết hôm nay mà không cần biết những ngày đã qua .
    Trên các đô thị bóng dáng chiếc xe đạp của những năm cuối thập kỷ trước ngày càng thưa thơt cho đến gần thành con số 0 trên đô thành , những cuộc đau xe đạp xuyên việt với những chặng đường trên dưới trăm Km , với áo vàng áo xanh từng chặng , làm tôi nhớ  lại thời chiến trong Trường Đại học Kỹ thuật quân sự V. N của tôi và đồng đội với sức trẻ rong ruổi trên nửa phần tổ quốc với chiếc Ba lô gói vuông vài bộ quần áo cùng một đống sách vở khoa học kỹ thuật như một vũ khí trên mặt trận không tiếng sung và cáchxa , xa lắm chiến địa bom đạn từng ngày .
    Từ ven bờ Hạ long tôi về bãi phúc xá khi có lệnh “đi học “ , chỉ sau 4 giờ đi xe vận tải và tàu tuần la hải quân bấy giờ chúng tôi đã về hải phòng cũng đã là một điều đáng nhớ của dăm bảy anhem chúng tôi từ Quảng Ninh đi học , nhưng những cuộc hành quân đó còn “mang tính quân sự “ cũng như những cuộc hành quân chuyển trường lớp liên tiếp sau học kỳ , sau năm học mà chúng tôi xem như lẽ thường , không  nhiều ấn tượng như lần hành quân chuyển trường lên Bác Mục –Hàm Yên—Tuyên Quang và về Vĩnh Yên .
    Khi chúng tôi học xong năm thứ nhất dưới đồng bằng , sơ tán trong vùng dân xa hà nội , đại đội 213 ở Thục Cầu Hưng yên , khi đó , chúng tôi được biết : Điểm cao quan sát trên đất bạn Lào đã bị đánh chiếm , chưa giành lại được , khả năng quan sát và dẫn đường bom xuống biền bắc V.N có thể sẽ được mở rộngvà như thế đồng bằng bắc bộ an toàn cho chúng tôi có thể không có ; chúng tôi được lệnh chuyển trường lên vùng cao , vùng chiến khu năm xưa .
   Khi rời khỏi Thục Cầu –Hưng Yên , chúng tôi chuyển lên Bắc Mục –Hàm Yên Tuyên Quang . Từ Thị xã Tuyên Quang , chúng tôi hành quân đêm đến tảng sáng thìđến khu đồi một bản người Tày và đóng quân lúc đầu ở gầm nhà sàn để dựng toàn bộ nhà ngủ , hội trường ,nhà ăn ,nhà bếp  bằng tre nứa trong vài tháng trước khi vào năm học tiếp theo , chính trong thời gian này đã làm cho nhiều ânh em chúng tôi thành những công nhân lâm nghiệp khaithácluồng nứavới những công việc khai thác , đóng bè và vận chuyển trên khe , suối về đồi thung lũng và đồi hoang đang khẩn trương dựng nhà tre nứa . Và có lẽ cũng là sau này đồng đội Tôi điB ngắn B dài thì những con vắt rừng Trường Sơn  cũng rắc rối như con muỗi đồng bằng mà thôi .
     Trên từng quả đồi Đất Hàm Yên đã mọc lên những gian nhà tre nứa lớn bé ẩn dưới những lùm cây cao , hội trường lớp học , nhà ở , nhà ăn đầy đủ , khu đồi vắng lặng trở thành một căn cứ tre nứa sáng đèn dầu hỏa trong nhưng khi màn đêm buông xuống cho tới canh khuya trước khi đồi núi chìm vào không gian tĩnh lặng của Biên cương . Nhưng rồi , chuẩn bị vào khai giảng năm học mới thì chúng tôi được lệnh tháo rỡ toàn bộ nhà ăn , nhà bếp , hội trường lớp học  và đóng bè . Về xuôi . Khi phố nhỏ huyện Hàm Yên vừa thấp thoáng màu áo anh quân hàm học viên  thì đẫ lại vắngvì ngày đêm rỡ nhà , đóng gói của chúng tôi cho một chuyến xuôi dòng song hồng về Bến Châu Phan ( Vĩnh Yên ) . Và những cột kèo luồng tre xuôi theo dòng suối nơi cuối nguồn đến bờ Sông Lô về xuôi . Đólà những vất vả , gian khổ không kém gì khi mới lên , lại một lần nữa đôi vai trần người học viên Kỹ sư quân sự cùng những cột luồng tre nứa đang còn màu xanh diệp lục thêm gắn bó .
   Lòng vui mừng và phấn khởi vì lại được về Xuôi gần Thủ Đô  làm chúng tôi trở nên hăng hái và những tay chống bè luồn lách khesuối cũng như khéo léo hơn , vả chăng cũng còn vì gần hơn nhữngngười thân yêu của mình dưới xuôi
  Chúng tôi về xuôi và được biết khi đó chúng ta đã chiếm lại được Điểm Cao quan sát bên Nước Bạn Lào .
    Chúng tôi được lệnh về dựng cơ sở ở Văn Tiến –Hương Canh Vĩnh Yên .Banchỉ huy đại đội biết tôi có người yêu ở Nam Đinh nên bố trí tôi đi Tiền trạm  cùng với haingười nữa là Anh Lương Văn Cao về tranh thủ thăm gia đình ở Đông Anh , và Phạm Văn Síu cũng về Hà Nội thăm người yêu và nhất là  Mẹ , bấy giờ sống ở HàNộimột mình vì Bố Síu là Liệt Sỹ .  , Síu  từ Cáp Nhĩ Tân Trung Quốc về học tiếp khi ta rút về nước lưu học sinh trong cái gọi là “Cách mạng Văn hóa “ của họ . .
    Có thể nói , lúc bấy giờ , vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước thì những cuộc hành quân , những chuyến đi như thế còn khó khăn và vất vả hơn nhiều so với những hành trình xuyên Việt hiện nay không những : Đường quá dài so cới phương tiện giao thông , đường xa , địa hình thay đổi và còn có cả lo ẩn tránh bom đạn phá hoại giao thông , tìm diệt quân đội mà bọn Mỹ gọi là Việt Cộng ngay trên Miền Bắc V.N . chúng ta
     Đi Tiền trạm , chúng tôi có 3 người . Tôi được Đại đội cho mượn chiếc xe đạp của Tiếp phẩm , Xe dùngđi chợ tiếp phẩm cho nhà bếp hàngngày nên cũ và không nhẹ nhàng gì , đường đồi núi , có đoạn không dốc cũng chỉ đạp được chừng 12-13 km /h , còn đoạn xuống dốc cũng dè chừng vì phanh yếu , xe cọc cạnh .
  Anh Cao có chiếc xe Thống nhất cũ mang theo ,còn síu thì lên Hàm yên mang theo chiếc DIAMAN của Đức . Xe đạp của chúng tôi đều là những xe cũ đã từng đi nhiều cây số , mà xăm lốp cũng đã phải vá víu , không có điều kiện để thay mới  .
    Cuộc hành quân bằng Xe đạp của chúng tôi về xuôi bấy giò nếu nhưđược chuẩn bị kỹ càng cho đi đường dài , đồi núi thì cũng chẳng có gì đáng nói . Nhưng , chiếc xe tiếp phẩm tôi đạp cứ như một con la già , còn xe của Síu , tuy là loại xe đi trên phố Hà Nội bấy giớ thì vài tháng cũng phải căng lại Vành cho trỏn . Síu lên xe chưa được bao lâu thì xe lốp xe bị thủng “châm kim “ ở đâu đó , trên đường đi , đường vắng ngắt , phụ tùng mang theo chỉ cái bơm xe đạp , và như thế . chừng Vài Km lại phải xuống xe bơm hơi .
   Xe anh Cao  cũng không phải xe tốt và cũng chỉ chuẩn bị đường dài --- qua loa . ,trong khi Anh cao Lớn tuổi hơn chúng tôi , vốn trước khi về Trường ,Anh Lái xecho TướngVăn Tiến Dũng nên chẳng phải một người đi xe đạp khỏe .
   Tuy nhiên Tôi và Síu đã từng là Vận động viên thể thao điền kinh và bong đá , nhưng với những chiếc xe hành quân bất đắc dĩ ấy  danhd chấp nhận .
   Đường dài từ miền cao , xuồn trung du , “ con ngứa sắt” với chiếc ba lô vuông hành lý người lính và tư trang là đống sách vở khoa học kỹ thuật ; hoàn cảnh như vậy , chúng tôi đuổi nhau suốt dọc đường . Síu , xe nhẹ và lốp bị châm kim , vì ths lên xe phải đạp hết tốc độ mà đi , khi lốp xẹp thì dừng  xe và  chở tôi đi giữa ,gặp nhau hai thgằng cùng bơm xe của Síu và đợi anh Cao đến thì xuất phát một đoạn đường tiếp thao … Cứ thế , chúng tôi đuổinhauvà đợinhautrên suốt dọc đường về Hà nôi . Đến Cầu Việt Trì đang làm dở chưa thông được xe lửa đã qua nửa đêm , trời bắt đầu về sáng , chúng tôi vào chỗ mấy anh trung quốc bấy giờ đang làm cầu xin nước uống , nhưng họ ngi chúng tôi là gián điệp  khi tôi nói vài câu xin nước , rồi Síu hỏi xin tiếp . Anh ta nghi là gián điệp lại còn biết cả tiếng Trung Quốc (Bởi Tôi cũng đã học 2 năm tiếng trung , còn Síu Thì Đã Học dở Đại Học quân sự ở Cáp Nhũ Tân Về ) .  Chúng tôi đành bơm xe và lên đườngvề đến Bạch Hạc chờ tàu đêm về Hà Nội .
     Về Hà nội rồi Síu Còn phải đạp đến nơi sơ tán . còn tôi . không chờ tàu Nam Định , tiếp tục xuôi theo quốc lộ1 rồi rẽ sang đường 21 về thành phốnamđịnh và xuôi theo phìa Đền Trần Nam Định Về nơi mẹ và Em gái tôi đang sơ tán , Cách Nam Định chừn 6-7 km .          
      Tốp hành quân đi tiền trạm của C213 khi về xuôi từ Hàm yên , như đã nói có chuyện riêng tư kèm theo đều là chuyện tình cảm gia đình Và tình yêu trong chiến tranh của những người lính . Chắc chắn gia đình anh Cao phải vui mưng thế nào khi chiếc xe lấp bụi đườn dựng trước sân nhà. Còn Síu , tôi không hiểu thế nào , bởi vì chúng tôi khi đó đang ở các tiểu đội khácnhau , còn chưa chia ngành học , Tôi trung đội phó kiêm chức và Tiểu đội 18 .
      Về đễn nơi sơ tán ở Nam Đinh , tôi không viết thư trước vì đi tiền trạm kết hợp cho về nhà là đột xuất , nên khi tôi  về  nhà nơi sơ tán  , vừa  ra khỏi ngõ để định đi sửa quần áo lính  cho đẹp vì năm ấy bộ quân phục lính Triều tiên lung thùng , tì vừa gặp cô người yêu đạp xe từ nơi  mẹ và em tôi sơ tán .
     Một thời bom đạn , tôi chỉ gặp người yêu khi em còn chưa đi làm và khi gặp lần đầu tiên sau mấy năm xa cách , như người ta nói , tôi ngượng không có chỗ chui xuống đất . Em hỏi tôi chỉ trả lời nhát gừng , và nói
  “ Tổi chỉ ở nhà được 1 ngày mai , rồi phải đạp xe đi sớm , không thể lui lại 1 ngày “
Em bảo
  “ chiều nay em phải về nơi soq tán để sang ngày mai họp Đại hội Đoàn Toàn thành phố , không thể về được “.
     Chúng tôi tạm biệt và  theo kế hoạch phải có mặt ở địa điểm mới và nhận chỗ ở cho Trung đội đến sau ; Tôi không thể chậm trễ và đường dài còn chừng 150 km trên chiếc xe đạp “la giá “ .  Chiến tranh , nhiệm vụ , tôi bùi ngùi nguyên hành trang từ Hàm Yên lại ngược miền trung du , và sau đại hội đoàn bế mạc ,Em chỉ còn biết  .. khóc . Và khi đó chúng tôi  đang với bè từ bến Châu Phan , chuển về văn Tiến dướn trời hè oi bức miền trung du mà người dân thấu chúng tôi lam lũ , vất vả , như những lính B quay , và không hiểu vì sao lính mà toàn là sách vở . vì vậy , khi đã hiểu , dân ở đây thương và tin tưởng chúng tôi , tạo nên một tình quân dân khó quên trong những ngày trọ học trong nhân dân .
               ***************** Viết ở Nam Định
    Đại tá và Sỹ Quan Trung cấp Quân ĐộiN D VN – Khóa1  C213Đại học K T Q S V V
     Tiến sỹ Nguyễn Nước , Kỹ sư Quân sự Nguyễn Tuấn , Đỗ Đăng Đích
                      Ảnh chụp tại nhà N Nươc Sài Gòn 2012 november
 
QUÊN ANH
Em bảo
    Không bao giờ ,
      Không bao giờ gặp lại nữa anh !
        Sau một lời xin lỗi tình yêu .
Tình thơ mộng trong một thời con gái phiêu diêu
Em đã chôn vùi như một  thời dĩ vãng xa thăm thẳm
Mà dưới gối vẫn còn nguyên dòng chữ
                       của tình anh nơi xa và thắm thiết
 Em không !
Không một mẩu tin nhắn từ nay  .
Em về,
Trong căn nhà lộng lẫy
Trăng dãi thềm và chim hót sáng tinh mơ ,
Em quên !
Nghe trong tiếng hót đầy thơ
Những bức thư tình vương đầy lối nhỏ đường đi
                       Những âm thầm phương xa vọng đến   
Đường Em đi ,
                Lối cũ ,                     Đường về
Em quên ! Và Hoàng hôn rộn rã
Những con đường ngõ nhỏ em qua
Quên cho đến tàn đời
Quên cho màu xanh tươi bất diệt
Mà chợt buồn
Khi thánh thót mưa rơi
Khi se lạnh mưa mùa xuân bay phơi phới ,
Và mhư thế mưa tràn mi mắt nhỏ
Nghe từng giọt , giọt dài trên bờ vai chờ đợi .
 Chẳng bao giờ Em còn gọi Anh ơi ! ./.
       Viêt ở Nam Định **********************
*******************April 2013************
    TRÁI TIM  MÁCH BẢO
   
    Trái Tim mách bảo
Mối tình của em
Tình bay vút như lão gia khờ khạo.
Mối tình đầu say đắm
Mãi là của Anh đằm đằm
Mối tình đầu bởi mãi yêu anh
Mối tình mà rồi bà lão khát khao
Khi mỗi lúc lòng  tự hào kiêu hãnh
Một thiên thần mộng mỵ xa xăm
   
Nếu trong Em mùa Thu vàng rơi rụng
Lá vàng rơi dưới trăng rằm xơ xác
Ánh trăng  vương nơi cầu vai chiến thắng
Cánh  sao rơi , tiến sỹ cũng nửa vời
Đời  cho hết
Và Em nhận hết
Chẳng ngày vui trong chiếc xe hoa
Mỗi ngày vui khi nước mắt nhòa
Bao tháng buồn trong nụ cười tươi
Tình vẫn thắm lời ca vời vợi
Ôm tình Anh Em nhặt cánh sao rơi
Còn lấp lánh dưới  trời trăng rọi
Và Anh đứng ôm bờ vai em thổn thức nghẹn lời
Mối tình đầu khi chiều lặng chìm sâu
 
Bởi tình Em  như tim mình đã bảo
Bởi  lời Anh trên trang viết đầu tiên
Lúc ban đầu và mãi mãi yêu anh .
Tình em đó cho chiều Thu vàng mãi
Chẳng cạn ngày tàn xuân bước giữa đông sang ./
               Viết ở Nam Định ***********
*****************Aprril 2103**********
 
 
 
Những năm cuối thập kỉ sáu mươi thế kỉ trước, mỗi khi có trận đấu của đội bóng đá Sao đỏ trên sân trường hay sân Vĩnh yên đều chật kín khán giả. Mọi con mắt đều đổ dồn về “bộ ba tam giác quỷ”: Khoa-số 6, Nam số 8 và Tùng Sơn số 10. Mỗi khi bóng đến chân Số 10 Tùng Sơn là lưới của đội bạn lại chuẩn bị rung lên…Nói như vậy để độc giả phân biệt Tùng Sơn, Thanh Sơn, Công Sơn cả ba đều học ở lớp ô tô xe xích đại đội 213 khóa một Trường ĐHKTQS.
          Tháng 9/1971 khóa một ra trường, hơn 150 con người tỏa ra mọi nẻo đường của Tổ quốc để làm nhiệm vụ của người kĩ sư quân sự, một số đã được điều động vào BTL 559 về các binh trạm, một số ở lại trường làm nhiệm vụ giảng dạy, còn lại được phân công về các cơ quan đơn vị trong toàn quân.
          Xin được góp vài mẩu chuyện từ những năm tháng công tác nhằm góp thêm tư liệu cho lớp 213 của chúng ta.
***
( Đấy là những năm cuối trên đất Vĩnh Yên trước khi hội đồng quốc gia  mở ra cho kỳ bảo vệ luận án tốt nghiệp của C213 )
  Những dòng viết thêmcủa Đỗ Đăng Đích .
Những năm cuối của Khóa học . Thủ môn nổitiếng Đội tuyển Bóng đá V.N __ Thủ môn Đức __ đã về trường với quân hàm Thiếu úy và làm công tác thể thao thể dục của Nhà trường trên Hiệu bộ bấy giờ .
  Những nămđang còn đi thực tế tại các cơ sở Công nghiệp quốc phòng toàn quân , chiếc xe 3 bánh đã đưa đón chúng tôi rải rác về sân trường để đá giải Nhà trường , và chúng tôi là tiền thân đội chân giầy của Đại học Kỹ Thuật Quân Sự khi đó .
  Thực ra sức mạnh của đội ở hang tấn công là bộ 3 đã kể , còn hang phòng vệ chắc     trái __ Đỗ Ngọc Lan , Trung vệ giữa phải __ Đõ Đăng Đích . chúng tôi đá với đôi hình 4-2-4 . cũng đủ để chũng tôi chinh chiến trên sân cỏ và thu hút người xem ham mộ chúng tôi .
   Những kỷ niệm như một giai thoại trên sân bóng và có lẽ chỉ Tường này mới có :
    Hôm đó Trường tổ chức đá giải nhà trường trên sân trường cách Vĩnh Yên 1 km    Trận đấu giữa C213 và C113 .
 Trái bóng lật cánh thu hút hang hậu vệ sang phải làm Ngọc Lan chạy lên phải đón bóng , nhưng quả bóng qua đầu hai trung vệ bay đến trước khung tgỗ không có lưới chỉ có vạch ngang . Trung vệ Đích vội vàng chạy về sứu nguy và bằng cú phá bóng bằng mà ngoài chân phải đã tung quả bóng ra biên , khi nó đang nẩy từ ngoài vạch giới hạn cầu môn chưa chạm đất . quả phá bóng bay nửa nâye này , do tọng tài không theo kịp cú tấn công của C113 thổi còi  cho ghi bàn thắng .
  Tùng Sơn từ trên sân đội bạn chạy về hỏi tôi : Vào chưa ? Tôi gắt lên : vào đâu mà vào !  nhưng trrọng tài vẫn quyết cho một bàn vào khung gỗ .
   Tất cả chúng tôi : Bỏ về . không đá nữa . Và như vậy giải bóng đá cũng bế mạc không kèn trồn . Thế đó .
    Tôi còn nhớ mãi những quả thành bàn thắng do Tùng Sơn đá vào , đều từ “góc chết “ với cú sút mà ngoài căng làm bóng bay vào ngay sát cột của góc ngay đó ___ cũng đã xem nhiều những cú sút thành bàn , kể cả của danh thủ anh quốc , Tây ban nha , Đức ,Ý ,CCCP , tôi chưa thấy bàn thắng nào được ghi nhận như của Tùng Sơn Đá vào từ góc chết đó !
               Có lễ Bộ quốc phòng bấy giờ /thương chúng tôi lắm , cho nên : Chúng tôi gặp những bất công và bỏ đi không cần biết việc gì sẽ xảy ra ; kể cả việc phản ứng giảng viên trong khi thi vấn đáp bị cho điểm 2 / 5 bất công cũng bỏ trường lớp đi luôn và nhận cảnh cáo của Chi bộ Đảng .
   Những dòng tản mạn trên lại ập về khi chúng tôi nhớ về mọt thời học viên Trường Dại Học Kỹ Thuật Quân Sự V.N của chúng tôi .
 Tôi xin gợi nghơ chút đỉnh  cho đồng đội khác ngành những những điểm ngoại khóa dễ thương mà nhớ về nhau qua hơn 45 năm xa cách .
 
   *************************
 
TRÊN CHIN TRƯỜNG B 2VÀ DC TRƯỜNG SƠN
Trên Chiến trường B 2 và dc Trường Sơn
LÊ TÙNG SƠN
          Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường
           Tôi và Trần Phượng đang học bổ túc lái xe để lấy bằng ở trường lái xe 255 thì được lệnh về Bộ Tư Lệnh Pháo binh nhận công tác. Trước khi đi học tôi là khẩu đội trưởng 12,7ly đại đội 20 Trường Sĩ quan Pháo binh, Trần Phượng là thợ của trạm sửa chữa trung đoàn 368 BTLPB. Trần Phượng được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe trung đoàn 204-BTLPB. Tôi được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe đi B2-chiến trường Đông Nam bộ.
          Khi đến gặp đồng chí trưởng ban cán bộ BTLPB để nhận quyết định đi B, cho đến bây giờ tôi cũng không nhớ nổi cảm xúc của mình, bởi lẽ lúc bấy giờ mọi suy nghĩ hành động của người thanh niên nói chung và người Đảng viên, sĩ quan  nói riêng, việc đi B là một vinh dự là một việc tất nhiên phải làm không có gì phải đắn đo suy nghĩ…
          Tôi được nghỉ phép 15 ngày, về nhà chẵng biết làm gì, nhà tôi ở khu tập thể Công ty vật liệu khiến thiết Hà nội 17 Hàng Ngang khu Hoàn kiếm, Hà nội các em tôi còn nhỏ đang di học cấp 1,2 má tôi bận đi bán hàng ở cửa hàng của công ty, ba tôi ở tận Thanh hóa đang làm giám đốc công ty vận tải lâm sản Tổng cục Lâm nghiệp. Ngày đi vào đợn vị 675 ở Thanh hóa chỉ có Chúc là vợ của Ngọc Tuấn bạn thân của tôi đi tiễn ra bến xe Kim liên, lên xe rồi chỉ có vợ bạn là khóc còn mình thì  mong sao đến đơn vị sớm.
          Đến trung đoàn 675 ở Triệu sơn Thanh hóa vào buổi tối, đơn vị đóng trong nhà dân bản Mường. Ngày hôm sau tôi nhận bàn giao trạm sửa chữa xe của trung đoàn đã được tập trung từ trước chỉ chờ tôi vào nhận bàn giao để đi B2. Trạm xe có 14 chiến sĩ gồm thợ xe, thợ nguội, thợ rèn và lái xe, trạm có hai xe Vọt tiến chở trang bị dụng cụ, máy phát điện 10kw…
          Đầu tháng 12/1971 trạm cơ động ra trường bắn 410-BTLPB đề tham gia thành lập đoàn 2047Ađi B2. Đoàn bao gồm đại đội cối 160 ly do anh Bùi như Lạc làm đại đội trưởng, trạm sửa chữa pháo do anh Phan thanh Nga làm trạm trưởng, anh Nga cũng học chuyển tiếp C8 ở trường ĐHKTQS và trạm sửa xe của tôi, toàn đoàn có 12 xe gồm 7 xe Hoàng Hà chở cối cùng đạn cối 160 ly, 3xe Vọt tiến của trạm pháo và 2 xe của trạm xe. Chúng tôi ở tại 410 hơn 10 ngày để củng cố tổ chức, làm dàn ngụy trang cho xe, bảo dưỡng xe lần cuối. Mỗi xe đều được che chắn buồng lái ở trên nóc và hai bên cánh của bằng phên tre, nứa. Chúng tôi phải gửi lại tất cả giấy tờ tùy thân để biến thành chiến sĩ quân giải phóng miền nam…
          Ngày 16/12/1971 chúng tôi hành quân về phía nam, lúc này Mỹ đã tạm ngừng ném bom từ vĩ tuyến 38 trở ra nên chúng tôi được hành quân trên quốc lộ một. Hành quân trên đường, với lá cờ nửa đỏ nửa xanh cắm ở đầu xe, thỉnh thoảng gặp một đoàn tàu chở bộ đội đi cùng hướng, hai bên reo hò vẫy tay cùng hát vang những bài ca giải phóng. Có lúc gặp những bà mẹ, cô gái đang cấy lúa bên đường họ ngửng đầu lên giơ tay vẫy vẫy và kéo vạt áo lau những giọt nước mắt…tôi chợt nghĩ cũng may mà mình chưa có vợ chưa có người yêu…
          Đến Cự nẫm Quảng bình chúng tôi dừng lại củng cố đội hình, kiểm tra xe máy, tôi cùng anh Minh trưởng đoàn đi vào Bộ tư lệnh 559 để xin lệnh hành quân, gặp bác Đồng sĩ Nguyên Tư lệnh 559 động viên và trực tiếp kí lệnh hành quân tôi cũng thấy phấn chấn trong lòng và chỉ mong chóng tới mặt trận. Đoàn chúng tôi tiếp tục hành quân với đội hình đại đội cối 160 ly với 7 xe Hoàng Hà đi đầu,  anh Minh đoàn trưởng đi cùng, Trạm pháo đi giữa gồm 3 xe Vọt tiến và tôi đi cuối  cùng với 2 xe Vọt tiến, tôi đảm nhiệm tham mưu trưởng hành quân có nhiệm vụ giải quyết mọi sự cố hỏng hóc dọc đường.
          Đường hành quân trên Trường sơn sách báo tài liệu nói nhiều rồi, tôi đã trải qua và nếm đủ. Từ leo đèo lội suối với những hàng tiêu dẫn đường bằng vải trắng, từ những đoạn đường được lót bằng những cây cừ cho tới vượt qua những trảng trống..,Từ những đêm đi bằng đèn ống bơ dưới ánh sáng của pháo sáng và tiếng ầm ì của máy bay C130, cùng những loạt cối 40 ly trên máy bay bắn xuống mà anh em trường sơn gọi là ‘xin thùng” đến những lúc vượt qua trảng trống với tiếng gầm của máy bayL19 đuổi theo và cả những tiềng ầm ầm của bom tọa độ do máy bay F105 ném xuống…Có đêm chỉ đi được 3km, sáng ra nhìn hố nước mà mình đã uống đêm qua thì thật kinh hãi bởi phân thú rừng đã ỉa từ lúc nào…
          Đến binh trạm 32 đoàn chúng tôi bị ném bom, cháy mất 2xe CA30 của đại đội cối, nhìn xe cháy, đạn nổ mà chẳng làm gì được. Đến khu vực trú quân  lại bị một trận bom nữa, tốp đi đầu vừa đến trạm chưa kịp đưa xe vào mang cá thì bị bom, anh em chạy sơ tán vào rừng, anh Minh trưởng đoàn bị thương nặng và hai ba chiến sĩ nữa cũng bị thương, lửa cháy ngùn ngụt tiếng rít cua máy bay còn trên đầu, tôi và hai chiến sĩ của trạm xe (Tín và Thạnh) chạy lên đập cửa kính đấu tắt khóa điện lái mấy chiếc xe ở ngoài bãi trống vào mang cá tránh lửa bén tới. Trời sáng hẳn mọi người mới trở về xe để tiếp tục hành quân, anh Minh và các chiến sĩ bị thương phải vào trạm cứu thương của binh trạm để trở ra Bắc. Cũng từ hôm đó một vài chiến sĩ đã nao núng tinh thần có ý đào ngũ, và đúng như vậy có hai chiến sĩ đã trốn khỏi đội hình đơn vị.
          Cuối năm 1971 đầu năm 1972 đường Trường sơn nhộn nhịp hẳn lên bởi ngoài tuyến vận tải nội bộ của Đoàn 559 còn có các đoàn hành quân đi thẳng vào chiến trường B2,B3 tiêu biểu là đoàn 571 của Cục Hậu cần Miền(B2), trong đó có đoàn 2047A của tôi. Theo quy định của Tư lệnh 559 xe cuả  559 phải nhường đường cho các đoàn đi thẳng.
Đến binh trạm 38 một điều bất ngờ ập tới với tôi: gặp Công Sơn. Lê công Sơn người Nghệ an, cùng tiểu đội học viên, học giỏi, tính trầm ít nói, ít tham gia hoạt động ngoại khóa văn nghệ thể dục thể thao, Sơn được điều đi B vào đoàn 559 trước tôi hơn một tháng. Ai ngờ hôm nay gặp nhau ở chiến trường mừng khôn tả. Gặp nhau ôm nhau mừng rỡ rồi hai thằng chui xuống gầm xe nằm nói chuyện thâu đêm tới sáng. Cho đến bây giờ tôi không thể nào quên những giờ phút gặp bạn đó, đêm không trăng nhưng đầy sao, yên tĩnh không bị lũ C130 quấy rầy, có lẽ chúng biết hai thằng bạn học của trường ĐHKTQS gặp nhau nên không dám đến khu vực này đánh phá. Thôi thì đủ  chuyện trên trời dưới biển chúng tôi kể cho nhau nghe, Sơn có người nữ bạn học từ thời phổ thông yêu hay chưa thì không biết, nhưng hắn nói Trâm(tên người bạn Sơn) đã thầm yêu cậu ta. Xin được trích một đoạn nhật ký của Sơn về cuộc gặp đó (đã được Hà em gái Sơn cho phép trích): “Chiều hôm qua, giữa Trường Sơn đất lửa, tôi đã gặp lại Tùng Sơn, người bạn thân yêu của tôi. Đang nằm trong căn nhà dã chiến lợp ni lông, tình cờ đứng dậy đi ra ngoài, Tùng Sơn gọi sửng sốt "Sơn!". Thế là tôi nhảy ào tới siết chặt bạn trong niềm vui sướng.Chiều tối lại chỗ Tùng Sơn chơi cách 2 km. Tối đến trải bạt xuống đất, mắc màn và ôm nhau tâm sự đến hơn 1h sáng mới ngủ thiếp đi trong niềm vui gặp bạn. 
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miền Nam. đều khoẻ. Em Hà được vào học sư phạm 10+3. Tình hình gia đình như vậy là rất tốt, chỉ còn mình lo công tác cho tốt nữa thôi.”Bạn đang còn đi xa hơn tôi nhiều vì tôi mới chỉ đi đến vĩ tuyến Quảng Đà, còn Tùng Sơn đi vào B2. Thế là 3 thằng Sơn đều vào chiến trường cả.Nằm tâm sự, Tùng Sơn đã kể về gia đình mình, vui nhất là điều mong muốn của mình được thực hiện: ba mẹ và các em
          Vậy là 3 Sơn của B5 đã vào chiến trường: Thanh Sơn và Công Sơn vào 559 còn tôi vào B2 Đông Nam bộ.                                                                         Sơn nhất quyết sau khi chấm dứt chiến tranh sẽ đi học tiếp, lấy cho được bằng phó tiến sĩ. Đúng như Sơn nói sau này khi đã về làm phó phòng quản lý sử dụng Cục ô tô máy kéo, anh ta vài lần đi thi nghiên cứu sinh nhưng rất không may đều trượt. Trượt về mơ ước học vấn phải chăng làm cho cuộc đời Sơn gặp không may về nhiều chuyện khác về gia đình riêng, rồi kết cục mà năm 2006 khi tôi nằm cùng viện 175 với Sơn thì Sơn trút hơi thở cuối cùng vì bạo bệnh. Lúc mất Sơn là Đại tá chủ nhiệm kho J250 Cục oto máy kéo-TCKT.
          Cuối năm 1972 lúc đó tôi vẫn là trạm trưởng sửa xe thuộc Đoàn Pháo Biên hòa chiến trường miền đông Nam bộ. Gặp anh Trần Ba lớp chuyên tu 221 trong một hoàn cảnh đặc biệt: nồi cháo ong thấm bom tọa độ.                     Hồi ấy sau một đêm hành quân chuyển cứ về “đồi Tám cách mạng”(một địa danh bên đất CPC tỉnh Krache), gần sáng thì tới vị trí đóng quân. Tôi ra lệnh cho đơn vị nhanh chóng triển khai đào hầm trú ẩn, mọi người nhanh chóng dỡ phụ tùng dụng cụ xuống xe, phủ bạt và phân nhau đi đào hầm. Hầm chỉ huy do tổ thợ rèn của Nguyễn thế Hệ đào. Dáng người to khỏe, cao lớn, Hệ cuốc từng nhát phầm phập mặc dù mùa khô bên đất CPC đất rất cứng như sỏi đá. Bỗng đâu những tiếng ù ù ù vang đến và trời đất như tối sầm lại…cố gắng định thần mọi người thấy một đàn ong mật vô vàn con đang ào ào xông tới đốt túi bụi…Thế là mạnh ai người ấy chạy, tôi cùng y tá Hùng mải miết chạy và chạy, đằng sau đàn ong vẫn uốn lượn đuổi theo, cổ và tay đã được nêm vài mũi chích rồi. Chạy được vài cây số thì may thay chúng không đuổi theo nữa, định đốt đống lửa để đề phòng thì nghe thấy tiến vè vè của máy bay trinh sát OV10 trên đầu, thế là đành phải ngồi trong bóng cây chịu trận. Khát và đói nhưng chăng làm được gì bởi “cứ”(tức là mơi đóng quân) thì ong đã chiếm mất rồi. Trời tối anh em chúng tôi lục tục trở về cứ, bấm đèn soi thì thật bất ngờ: tổ ong dài gần 2 mét to bằng cái bàn làm việc. Hệ và mấy chiến sĩ đốt đuốc xông khói bắt bằng được tổ ong nọ. Một nồi hai mươi mật và hai nồi con ong bắt được. Đêm ấy chung tôi nấu một nồi cháo ong ăn bù cho một ngày bận bịu vất vả, chưa kịp vào mâm thì thật bất ngờ: anh Trần Ba tới.                                    Anh Trần Ba là học viên chuyên tu lớp 221 ra trường cùng cuối năm 1971, đi chiến trường theo đường bộ vào miền Đông Nam bộ công tác tại phòng quân giới miền (phòng 4), nghe tin tôi đã vào chiến trường anh lặn lội xuống thăm. Thời bấy giờ ở B2 quãng đường tính bằng giờ đi bộ chứ không tính bằng km, từ chỗ anh tới tôi đi mất 5 giờ. Gặp nhau mừng vui khôn tả, hỏi thăm bạn bè, đồng đội và ôn lại những ngày còn ở nhà tầng Vĩnh yên…Lúc nồi cháo được bưng ra tôi kể cho anh  nghe về trận tấn công của bầy ong mà mọi người trải qua giờ mới có thành quả là nồi cháo. Bỗng “ào, ào” chỉ kịp nghe tiếng xé không khí của máy bay F105 bay qua thì chúng tôi đã nằm gọn trong hầm và “ầm ầm” hai quả bom “tọa độ” đã nổ cách chúng tôi khoảng vài chục mét.                                                                                                            Đêm miền đông lại tĩnh lặng, chúng tôi lên khỏi hầm để tiếp tục cuộc chén thì ôi thôi nồi cháo đã bay mất rồi, mùi cháo còn thơm lừng với những vụn cháo vương vãi đâu đó dưới ánh đèn pin. Cũng may mà còn được một bi đông mật để đãi anh Trân Ba.
          Bây giờ có nhiều cuộc vui với nhiều món sơn hào hải vị, nhiều thức uống cao cấp đắt tiền, nhưng với người lính chẳng có món nào ngon hơn tình đồng chí đồng đội, đó là điều mà không có gì có thể mua được và cũng không dễ gì có được nếu không nếm trải gian khổ nơi chiến trường.
          Giữa  Năm 1973 bất ngờ tôi lại được gặp tiếp hai thày trò của lớp xe: Anh Bùi thức Hưng và Đỗ thành Hưng. Anh Bùi thức Hưng là giáo viên dạy chúng tôi về kết cấu oto Hồi còn ở trường anh em rất thân nhau, anh học khóa 7 Bách khoa chuyển sang làm giáo viên của trường, tính tình điềm đạm cởi mở và rất tận tình với học trò. Với những học viên có biệt tài đá bóng như tôi anh càng ưu ái. Không ngờ được gặp anh tai chiến trường Đông nam bộ những ngày sôi động sau hiệp định Pari thật vui mừng hết xiết, thật tiếc nghe đâu anh bị tai nạn xe trong khi đi công tác lên biên giới phía Bắc trong cuộc chiến 1979.  Đỗ thành Hưng quê Hưng yên, học khóa đầu trường Nguyễn văn Trỗi, được tuyển thẳng vào Đại Học KTQS, học giỏi, sau khi tốt nghiệp được phong quân hàm Chuẩn úy và được phân công về Bộ tư lệnh Tăng Thiết giáp. Khi đi B2 là đại đội trưởng sửa chữa trung đoàn tăng tăng cường cho đoàn M26 Bộ Tư Lệnh miền. Hai thằng gặp nhau ở trạm xăng dầu Lộc ninh, lúc tôi đang chuẩn bị đi phục vụ chiến dịch Phước long. Cùng tiểu đội nên tôi còn nhớ nhiều kỉ nhiệm về Hưng. Sau này khi giải phóng miền Nam, Hưng về Quân khu 9 sau đó về lại QK7 làm trưởng phòng tăng Cục kĩ thuật rồi về hưu sớm do hoàn cảnh gia đình. Hiện giờ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong cảnh sức khỏe giảm sút nặng nề: Hưng đã đặt 5 Stel trong mạch vành tim…
          Khi về căn cứ Bà chiêm Tây ninh tôi gặp bạn Trân Phượng. Trân Phượng cùng tiểu đội và cùng “tổ tam tam”, anh ta có câu nói nổi tiếng: “Tắm nhiều làm gì cho nó nhão thịt” vì bản chất của anh ta rất lười tắm, hai chân “eechdima” lúc nào cũng gãi sồn sột hầu như anh nào của B5 cũng đều nhớ cả. Phượng về BTL Pháo binh cùng tôi, về làm trạm trưởng sửa xe trung đoàn 204, khi đi B2 thì đã làm trợ lý xe trung đoàn rồi. Gặp nhau hỏi thăm được vài câu rồi chia tay vì trung đoàn 204 đã được điều động về quân đoàn 4(lấy phiên hiệu là 434), sau này khi đi chiến dịch mùa khô 1984 ở CPC tôi còn gặp Phượng ở mặt trận 479, lúc này Phượng là CNKT sư 7/QĐ4. Phượng sống ngay thẳng thật thà, khi về hưu “hoàn cảnh” đến mức phường Linh trung quận Thủ đúc TP HCM phải xây tặng cho một căn nhà tình nghĩa. Lần cuối cùng gặp nhau là ở bệnh viện 175, tôi đi điều trị mạch vành tim còn Phượng bị ung thư hạch, năm 2006 Phượng qua đời trước Công Sơn vài tháng.
          Gặp nhau trong chốc lát, mừng vui rồi chia tay ai về đơn vị nấy. Tôi tiếp tục chỉ huy đơn vị đi sửa chữa xe phục vụ các chiến dịch cho tới khi giải phóng miền nam 30/4/1975.
          Sự đời thật trớ trêu, khi còn thanh xuân vui vẻ và tếu táo, khi về già gặp nhau trong bệnh viện vẫn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ba thằng cùng tiểu đội lại góp phần phong phú thêm cho khoa A1 bệnh viện 175…
          Tôi gặp bạn trong lớp khá nhiều, song bốn bạn gặp ở chiến trường thì đã mất hai rồi. Vẫn biết sinh có hạn tử bất kì, người ta chỉ chữa được bệnh chứ không chữa được mệnh, nhưng mỗi khi nhắc đến lớp đến trường thì những kỷ niệm vui buồn đều nhớ đến người đã khuất dù rằng bản thân tôi cũng mắc nhiều chứng bệnh nan y. Cũng vì vậy mà dù không biết viết văn tôi vẫn cố ít dòng mong sao cho thế hệ học viên đi sau biết cha anh chúng đã sống và đối nhân xử thế như thế nào; để rồivững bước trên đường xây dựng ttỏ quốc quê hương trong thời đại mới hôm nay . ./
          Chuyện thứ hai:
 Sa xe M113 dưới pháo sáng
          Sau thắng lợi chiến dịch Lộc ninh, cuối năm 1972 quân giải phóng mở chiến dịch Bình long nhằm cắt đứt đường 13 mở rộng vùng giải phóng chờ thời cơ tiến về Sài gòn.
          Để phục vụ chiến dịch, trước đó trạm xe của tôi đã đi sửa hết một vòng các đơn vị trong Đoàn pháo Biên hòa. Khi học ở trường tôi hay nói vui với các bạn: mình được đào tạo để “cái gì cũng biết, nhưng chẳng biết cái gì cả”. Ra trường tiếp xúc với thực tế nếu biết vận dụng “cái gì cũng biết” với tinh thần cầu thị không dấu dốt, sẵn sàng học hỏi và xắn tay áo lao vào làm với anh em thợ, những người thợ lành nghề thì sẽ “biết làm” và biết chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Trời phú cho tôi cái tính hòa đồng và điều quan trọng hơn cả là trong chiến tranh gian khổ ác liệt cận kề với cái chết thì tình thương yêu đồng đội còn quý hơn cả cái gọi là trên dưới, sĩ quan và binh lính…Vì vậy trạm của tôi đã luôn hoàn thành nhiệm vụ trên giao, cũng có chiến sĩ bị thương nặng trong chiến dịch Lộc ninh(cậu Phương bị bom ở cầu Cần lê trên đường 13), nhưng tinh thần vẫn không nao núng.
          Chiến dịch Bình long lực lượng pháo chiến dịch chủ yếu là lựu pháo 105,pháo chống tăng 85 các loại DKZ, cối 160,120…Đặc biệt ta thu được một số pháo 155ly của địch, không có xe kéo phải dùng xe M113 thu được của địch để kéo pháo. Những trận đánh đang diễn ra ác liệt thì một xe M113 trên đường ra trận địa bị hỏng. Không có xe kéo pháo thì quả là một điều khó khắc phục bởi pháo 155 nặng tới gần 5 tấn.
          Tôi đang ở căn cứ của trạm và mới trải qua một trận sốt rét thừa chết thiếu sống, nhiệt độ lên tới 41,2 độ, trời nắng chang chang nhưng vẫn trùm chăn ngồi cạnh đống lửa . Ai đã ở chiến trường đều hiểu sốt rét là thế nào, nóng hầm hập nhưng vẫn lạnh run người, miệng khô môi nẻ cơm không ăn cháo không màng chỉ thèm dâu da rừng…muốn đứng dậy phải hai tay hai gậy chống…Có lẽ bài học vỡ lòng và chuyên sâu của người lính ở chiến trường là sốt rét. Đang nằm trên võng thì liên lạc của Phòng hậu cần gọi tôi lên Phòng nhận nhiệm vụ gấp. Tôi vơ vội quần áo tăng võng bỏ vào bồng và gọi Hệ hộ tống tôi trên đường về phòng Hậu cần.
          Anh Khanh trưởng phòng hậu cần Đoàn pháo Biên hòa giao nhiệm vụ cho tôi đi sửa cái xe M113 ấy. Anh nói: “Tôi báo cáo với Tư lệnh pháo binh, tôi chỉ còn dự trữ một kĩ sư duy nhất, nay tung ra rồi, Tư lệnh yên tâm, sẽ có xe kéo cho pháo 155ly”.
          Tôi chỉ thị cho Hệ đi sang cánh Bắc gọi Tín là thợ xe chủ lực của trạm về vị trí xe M113T(Tín học ở trường trung cấp Bộ nông trường, tay nghề rất giỏi) Gần tối chúng tôi gặp nhau ở trong một khu rừng dầu nơi chiếc xe M113 nằm chình ình một đống. Hỏi Hẩu lái xe tình trạng xe thế nào, anh ta bảo xe chạy đến đó vướng gốc cây không chạy được, tắt máy xong lên nổ lại thì không khởi động được. Hỏi không khởi động được như thế nào thì anh ta trả lời mỗi khi ấn nút nó chỉ kêu lạch cạch lạch cạch. Tôi bàn với Tín có hai khả năng: bình điện yếu hết điện hoặc khởi động có vấn đề. Tín dung hai sợi dây dẫn đấu vào hai cực bình điện quệt thử thì tia lửa rất mạnh. Đoán là nguyên nhân từ khởi động.
          Hai anh em chui vào buồng máy, máy xăng hình chữ V giống động cơ Zin130 của ta. Sờ tìm khởi đông…Không thấy đâu. Trời tối chỉ có sao không có trăng, trên đầu máy bay OV10 vè vè, máy bay C130 ầm ì thả pháo sáng, thỉnh thoảng nó quăng vài quả cối 40ly vu vơ…Vai tiếng đồng hồ trôi qua, nếu không sửa xong xe trước trời sáng thì sẽ ảnh hưởng tới quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy. Máy bay vẫn gầm rú trên đầu pháo sáng soi rõ hai khuôn mặt đầy dầu mỡ pha chút lo lắng.Tôi chợt nghĩ sao không chui xuống gầm thử tìm xem, hai anh em chui xuống dưới gầm xe, mặc cho bùn đất lấm lem quần áo mặt mũi, mỗi người một đầu gầm khảo sát. Bổng tôi thấy một vành bu long bắt  chặt một cái nắp tròn bằng cái mâm đồng ăn cơm, tôi gọi Tín bò lại và chỉ nó rồi bảo Tín tháo cái mâm này ra. Điều vui mừng tới bất ngờ bởi cái khởi động bằng con lợn con nằm chình ình ra đó…Tín nhanh chóng tháo và chùi hai đồng xu khởi động, chỉ vừa kịp vặn buloong cuối cùng của  nắp chắn tôi đã bảo Hẩu lái xe nổ máy. Tiếng máy nổ rền vang trong tiếng reo vui của mọi người…

            
 
 
    Trái Tim mách bảo
  
Mối tình của em
Tình bay vút như lão gia khờ khạo.
Mối tình đầu say đắm
Mãi là của Anh đằm đằm
Mối tình đầu bởi mãi yêu anh
Mối tình mà rồi bà lão khát khao
Khi mỗi lúc lòng  tự hào kiêu hãnh
Một thiên thần mộng mỵ xa xăm
   
Nếu trong Em mùa Thu vàng rơi rụng
Lá vàng rơi dưới trăng rằm xơ xác
Ánh trăng  vương nơi cầu vai chiến thắng
Cánh  sao rơi , tiến sỹ cũng nửa vời
Đời  cho hết
Và Em nhận hết
Chẳng ngày vui trong chiếc xe hoa
Mỗi ngày vui khi nước mắt nhòa
Bao tháng buồn trong nụ cười tươi
Tình vẫn thắm lời ca vời vợi
Ôm tình Anh Em nhặt cánh sao rơi
Còn lấp lánh dưới  trời trăng rọi
Và Anh đứng ôm bờ vai em thổn thức nghẹn lời
Mối tình đầu khi chiều lặng chìm sâu
 
Bởi tình Em  như tim mình đã bảo
Bởi  lời Anh trên trang viết đầu tiên
Lúc ban đầu và mãi mãi yêu anh .
Tình em đó cho chiều Thu vàng mãi
Chẳng cạn ngày tàn xuân bước giữa đông sang ./
 
               Viết ở Nam Định ***********
*****************Aprril 2103**********
 

                TÌNH XA 


     Tình yêu như sao bắc đẩu em ơi !
Quê hương đất nước và chiều bên Em ,
Ngày xa gió núi điệp trùng
Chờ anh không đặng khôn cùng chờ mong
Hành quân gối một bóng hồng
Cheo veo đầu súng môi hồng canh khuya
Tình ai thắm tình ai kia
Ngày về xa lắc thuyền kia bến nào !

Trập trùng đỉnh núi non cao
Tình em lấp lánh bay vào trang thơ
Cho dù người có thờ ơ
Tình yêu nước chảy bến bờ nào đâu
Biển sông chỗ cạn nơi sâu
Tình không nông cạn một màu tím nhung ./.
***************
 
 
 
 

HOÀNG HÔN CAO NGUYÊN
Hoàng hôn cao nguyên
Cũng biêt rằng yêu đắm đuối nhiều
Mối tình tha thiết biết bao nhiêu
Cao nguyên rừng núi trời xanh thẳm
Lạnh giá đêm đông một thoáng chiều
 
Em bảo những đêm buồn tha thiết
Ôm bao mộng đẹp trong tình anh
Đắm đuối bên anh mùa thu lạnh
Lá vàng xanh lại mãi màu xanh
 
Em buông chiều xuống trong mộng ấy
Có phải không anh mỗi lá cành
Rung rinh thoang thoảng hoa ngan ngát
Thấp thoáng hình anh in giữa mành
 
Nhưng rồi em sợ mùa đông lắm
Tình cũng tan tành vỡ mộng thôi
Tình anh có thắm xa vời vợi
Giọt lạnh ,sương rơi một góc trời ./.
 
             ******N. Đ City
              April 22, 2013********
                 
Li nói đầu và li tác gi .
 
Mỗi người chúng ta sống trên mảnh đất việt nam mà mảnh đất này__ một dòng Hồng Hà xuyên dọc nửa phần đất nước với một dòng Mê-Kồng đổ ra Biển Đông bằng chín dòng sông xanh trong mà người xưa đã đưa lại cho tên gọi hôm nay –Cửu Long Giang .  Mỗi người và từng người sống qua một thời nghèo nàn , cực khổ và oanh liệt qua mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc Việt Nam , một dân tộc với Văn minh Đồng bằng Sông Hồng ___ Cái nôi của loài người  còn nguyên vẹn rừng nguyên sinh Cúc Phương với Động Người xưa trên lưng chừng vách núi Cúc Phương ; Đi qua trọn vẹn cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc V.N và những năm xây dựng tổ quốc ta trong hòa bình  đều là những thiên tiểu thuyết cuộc đời con người  mà những tác phẩm văn học chỉ thể hiện được  từng  nét, từng nét , mà rất khó có thể có một tác phẩm văn học nào lớn  đủ cho nó .
     Bởi vậy những đoạn hồi ký của người ta tưởng như phi văn học , và của cá nhân ai đó ngỡ là không mấy giá trị , chỉ là của cá thể ai đó thôi , không , đó là những viên gạch đã được nung chin từ nắm đất sông Hồng để xây lên thành những tòa biệt thự văn học , những dãy nhà bảo tàng lịch sử dân tộc qua từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử Việt Nam .
     Năm 2012 , cuối năm , sau một vòng tròn trên không dưới đất NamĐinh –Hà Nội –Sài Gòn –Hải Phòng –Hà nội –Nam Định liên lạc của tôi với  đồng đội –học viên Trường Đại học kỹ thuật quân sự việt Nam Khóa thứ nhất –C213  được nối lại sau nhiều năm tôi không biết và cũng không ai biết tôi trôi nổi về đâu sau khi rời Quân đội từ hàng ngũ Sỹ Quan kỹ thuật Thủ đô về nơi chôn rau cát rốn của mình .
  
 Viết hồi ký này của tôi có lẽ bắt nguồn từ  ý tưởng của Nghiêm Sỹ Chúng . .
Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu Tướng – Phó Tiến sỹ khoa học kỹ thuật = Tiến sỹ
  Gửi thư cho đồng đội vả tôi có được từ Email của Tiến sỹ Đại Tá Lê Kinh Tuyến Viện Nghiên cứu kỹ thuật  quân sự V.,N cũng như vậy từ Tiến Sỹ --Đại Tá Nguyễn Nước Trường Đại học Kỹ thuật quân sự Trần Đại Nghĩa ( Trường Kỹ thuật Quân sự Vin –Hem –Pích )     .
     Xin chép ra đây toàn văn thư của Nghiêm Sỹ Chúng  .
Và , có thể nói đó là điều cảm xúc và viết những trang hồi ký của tôi từ khi về trường Đại học cho tới khi tôi về nghỉ hưu không ai biết đến .
    Và Tôi nghĩ rằng : bản anh hùng ca của dân tộc Việt Nam ta cũng nằm trong từng trang hồi ký , hồi ức của mỗi người đi qua trọn vẹn hay một phần của chiến tranh vệ quốc và giải phóng dân tộc Việt Nam , dù ở đâu , trên chiến trường hay nơi hậu phương , hoặc giữa lòng thành phố ,hoặc trên Thủ đô ngàn năm văn hiến . 
 
 

Thư gửi các ban cựu học viên C213 ĐHKTQS
 
Các bạn thân mến,
 
Trong những năm gần đây HVKTQS đã phát động những đợt viết hồi ký về nhà trường và đã xuất bản 2 ấn phẩm là Không gian tình thầy (10-2006) và Mái trường trong ký ức (10-2011) gồm khoảng 150 bài viết của các thày giáo và học viên của HV trong suốt 45 năm qua. Nhưng đáng tiếc vì lý do thiếu thông tin nên các học viên khóa 1 chúng ta tham gia rất ít.
 
          Những chặng đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những kỷ niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành một phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng ta đã đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn sẽ tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi chúng ta lâu nữa!
 
          Chúng tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là thời kỳ 1971 – 1975.
-         Bài viết bao gồm các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.     
-         Đề tài tự do, tất cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy.
-         Mỗi người nộp cho một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá nhân: ngày sinh, địa chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả mọi người trong C213).
 
Địa chỉ gửi bài : Nghiêm sỹ Chúng, nhà số 16, ngõ 71/14 phố Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 069562073 – 0973128873 email: ttbinh2@yahoo.com
Thời gian gửi bài đến hết tháng 12/2013.
Rất mong nhận được sư hưởng ứng của tất cả anh em chúng ta, Cảm ơn!
…..(NGHIÊM SỸ CHÚNG ) “
TM BLL học viên khóa 1  .Nghiêm Sỹ Chúng
 
 
 
 
 

 NĂM THÁNG KHÔNG  QUÊN
 
Thay lời đầu và lời tác giả
Cho toàn tập hồi ký
          Chúng tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là thời kỳ 1971 – 1975.
-         Bài viết bao gồm các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.     
-         Đề tài tự do, tất cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy.
-         Mỗi người nộp cho một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá nhân: ngày sinh, địa chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả mọi người trong C213).
 
 
 Những năm cuối thập kỉ sáu mươi thế kỉ trước, mỗi khi có trận đấu của đội bóng đá Sao đỏ trên sân trường hay sân Vĩnh yên đều chật kín khán giả. Mọi con mắt đều đổ dồn về “bộ ba tam giác quỷ”: Khoa-số 6, Nam số 8 và Tùng Sơn số 10. Mỗi khi bóng đến chân Số 10 Tùng Sơn là lưới của đội bạn lại chuẩn bị rung lên…Nói như vậy để độc giả phân biệt Tùng Sơn, Thanh Sơn, Công Sơn cả ba đều học ở lớp ô tô xe xích đại đội 213 khóa một Trường ĐHKTQS.
          Tháng 9/1971 khóa một ra trường, hơn 150 con người tỏa ra mọi nẻo đường của Tổ quốc để làm nhiệm vụ của người kĩ sư quân sự, một số đã được điều động vào BTL 559 về các binh trạm, một số ở lại trường làm nhiệm vụ giảng dạy, còn lại được phân công về các cơ quan đơn vị trong toàn quân.
          Xin được góp vài mẩu chuyện từ những năm tháng công tác nhằm góp thêm tư liệu cho lớp 213 của chúng ta.
***( Đấy là những năm cuối trên đất Vĩnh Yên trước khi hội đồng quốc gia  mở ra cho kỳ bảo vệ luận án tốt nghiệp của C213 )
  Những dòng viết thêmcủa Đỗ Đăng Đích .
Những năm cuối của Khóa học . Thủ môn nổitiếng Đội tuyển Bóng đá V.N __ Thủ môn Đức __ đã về trường với quân hàm Thiếu úy và làm công tác thể thao thể dục của Nhà trường trên Hiệu bộ bấy giờ .
  Những nămđang còn đi thực tế tại các cơ sở Công nghiệp quốc phòng toàn quân , chiếc xe 3 bánh đã đưa đón chúng tôi rải rác về sân trường để đá giải Nhà trường , và chúng tôi là tiền thân đội chân giầy của Đại học Kỹ Thuật Quân Sự khi đó .
  Thực ra sức mạnh của đội ở hang tấn công là bộ 3 đã kể , còn hang phòng vệ chắc     trái __ Đỗ Ngọc Lan , Trung vệ giữa phải __ Đõ Đăng Đích . chúng tôi đá với đôi hình 4-2-4 . cũng đủ để chũng tôi chinh chiến trên sân cỏ và thu hút người xem ham mộ chúng tôi .
   Những kỷ niệm như một giai thoại trên sân bóng và có lẽ chỉ Tường này mới có :
    Hôm đó Trường tổ chức đá giải nhà trường trên sân trường cách Vĩnh Yên 1 km    Trận đấu giữa C213 và C113 .
 Trái bóng lật cánh thu hút hang hậu vệ sang phải làm Ngọc Lan chạy lên phải đón bóng , nhưng quả bóng qua đầu hai trung vệ bay đến trước khung tgỗ không có lưới chỉ có vạch ngang . Trung vệ Đích vội vàng chạy về sứu nguy và bằng cú phá bóng bằng mà ngoài chân phải đã tung quả bóng ra biên , khi nó đang nẩy từ ngoài vạch giới hạn cầu môn chưa chạm đất . quả phá bóng bay nửa nâye này , do tọng tài không theo kịp cú tấn công của C113 thổi còi  cho ghi bàn thắng .
  Tùng Sơn từ trên sân đội bạn chạy về hỏi tôi : Vào chưa ? Tôi gắt lên : vào đâu mà vào !  nhưng trrọng tài vẫn quyết cho một bàn vào khung gỗ .
   Tất cả chúng tôi : Bỏ về . không đá nữa . Và như vậy giải bóng đá cũng bế mạc không kèn trồn . Thế đó .
    Tôi còn nhớ mãi những quả thành bàn thắng do Tùng Sơn đá vào , đều từ “góc chết “ với cú sút mà ngoài căng làm bóng bay vào ngay sát cột của góc ngay đó ___ cũng đã xem nhiều những cú sút thành bàn , kể cả của danh thủ anh quốc , Tây ban nha , Đức ,Ý ,CCCP , tôi chưa thấy bàn thắng nào được ghi nhận như của Tùng Sơn Đá vào từ góc chết đó !
   
           Có lễ Bộ quốc phòng bấy giờ /thương chúng tôi lắm , cho nên : Chúng tôi gặp những bất công và bỏ đi không cần biết việc gì sẽ xảy ra ; kể cả việc phản ứng giảng viên trong khi thi vấn đáp bị cho điểm 2 / 5 bất công cũng bỏ trường lớp đi luôn và nhận cảnh cáo của Chi bộ Đảng .
   Những dòng tản mạn trên lại ập về khi chúng tôi nhớ về mọt thời học viên Trường Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự V.N của chúng tôi .  Tôi xin gợi nghơ chút đỉnh chođồng đội khác ngành những những điểm ngoại khóa dễ thương mà nhớ về nhau qua hơn 45 năm xa cách .    
              
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG B 2VÀ DỌC TRƯỜNG SƠN
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
 
LÊ TÙNG SƠN
 
          Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường
 
          Tôi và Trần Phượng đang học bổ túc lái xe để lấy bằng ở trường lái xe 255 thì được lệnh về Bộ Tư Lệnh Pháo binh nhận công tác. Trước khi đi học tôi là khẩu đội trưởng 12,7ly đại đội 20 Trường Sĩ quan Pháo binh, Trần Phượng là thợ của trạm sửa chữa trung đoàn 368 BTLPB. Trần Phượng được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe trung đoàn 204-BTLPB. Tôi được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe đi B2-chiến trường Đông Nam bộ.
          Khi đến gặp đồng chí trưởng ban cán bộ BTLPB để nhận quyết định đi B, cho đến bây giờ tôi cũng không nhớ nổi cảm xúc của mình, bởi lẽ lúc bấy giờ mọi suy nghĩ hành động của người thanh niên nói chung và người Đảng viên, sĩ quan  nói riêng, việc đi B là một vinh dự là một việc tất nhiên phải làm không có gì phải đắn đo suy nghĩ…
          Tôi được nghỉ phép 15 ngày, về nhà chẵng biết làm gì, nhà tôi ở khu tập thể Công ty vật liệu khiến thiết Hà nội 17 Hàng Ngang khu Hoàn kiếm, Hà nội các em tôi còn nhỏ đang di học cấp 1,2 má tôi bận đi bán hàng ở cửa hàng của công ty, ba tôi ở tận Thanh hóa đang làm giám đốc công ty vận tải lâm sản Tổng cục Lâm nghiệp. Ngày đi vào đợn vị 675 ở Thanh hóa chỉ có Chúc là vợ của Ngọc Tuấn bạn thân của tôi đi tiễn ra bến xe Kim liên, lên xe rồi chỉ có vợ bạn là khóc còn mình thì  mong sao đến đơn vị sớm.
          Đến trung đoàn 675 ở Triệu sơn Thanh hóa vào buổi tối, đơn vị đóng trong nhà dân bản Mường. Ngày hôm sau tôi nhận bàn giao trạm sửa chữa xe của trung đoàn đã được tập trung từ trước chỉ chờ tôi vào nhận bàn giao để đi B2. Trạm xe có 14 chiến sĩ gồm thợ xe, thợ nguội, thợ rèn và lái xe, trạm có hai xe Vọt tiến chở trang bị dụng cụ, máy phát điện 10kw…
          Đầu tháng 12/1971 trạm cơ động ra trường bắn 410-BTLPB đề tham gia thành lập đoàn 2047Ađi B2. Đoàn bao gồm đại đội cối 160 ly do anh Bùi như Lạc làm đại đội trưởng, trạm sửa chữa pháo do anh Phan thanh Nga làm trạm trưởng, anh Nga cũng học chuyển tiếp C8 ở trường ĐHKTQS và trạm sửa xe của tôi, toàn đoàn có 12 xe gồm 7 xe Hoàng Hà chở cối cùng đạn cối 160 ly, 3xe Vọt tiến của trạm pháo và 2 xe của trạm xe. Chúng tôi ở tại 410 hơn 10 ngày để củng cố tổ chức, làm dàn ngụy trang cho xe, bảo dưỡng xe lần cuối. Mỗi xe đều được che chắn buồng lái ở trên nóc và hai bên cánh của bằng phên tre, nứa. Chúng tôi phải gửi lại tất cả giấy tờ tùy thân để biến thành chiến sĩ quân giải phóng miền nam…
          Ngày 16/12/1971 chúng tôi hành quân về phía nam, lúc này Mỹ đã tạm ngừng ném bom từ vĩ tuyến 38 trở ra nên chúng tôi được hành quân trên quốc lộ một. Hành quân trên đường, với lá cờ nửa đỏ nửa xanh cắm ở đầu xe, thỉnh thoảng gặp một đoàn tàu chở bộ đội đi cùng hướng, hai bên reo hò vẫy tay cùng hát vang những bài ca giải phóng. Có lúc gặp những bà mẹ, cô gái đang cấy lúa bên đường họ ngửng đầu lên giơ tay vẫy vẫy và kéo vạt áo lau những giọt nước mắt…tôi chợt nghĩ cũng may mà mình chưa có vợ chưa có người yêu…
          Đến Cự nẫm Quảng bình chúng tôi dừng lại củng cố đội hình, kiểm tra xe máy, tôi cùng anh Minh trưởng đoàn đi vào Bộ tư lệnh 559 để xin lệnh hành quân, gặp bác Đồng sĩ Nguyên Tư lệnh 559 động viên và trực tiếp kí lệnh hành quân tôi cũng thấy phấn chấn trong lòng và chỉ mong chóng tới mặt trận. Đoàn chúng tôi tiếp tục hành quân với đội hình đại đội cối 160 ly với 7 xe Hoàng Hà đi đầu,  anh Minh đoàn trưởng đi cùng, Trạm pháo đi giữa gồm 3 xe Vọt tiến và tôi đi cuối  cùng với 2 xe Vọt tiến, tôi đảm nhiệm tham mưu trưởng hành quân có nhiệm vụ giải quyết mọi sự cố hỏng hóc dọc đường.
          Đường hành quân trên Trường sơn sách báo tài liệu nói nhiều rồi, tôi đã trải qua và nếm đủ. Từ leo đèo lội suối với những hàng tiêu dẫn đường bằng vải trắng, từ những đoạn đường được lót bằng những cây cừ cho tới vượt qua những trảng trống..,Từ những đêm đi bằng đèn ống bơ dưới ánh sáng của pháo sáng và tiếng ầm ì của máy bay C130, cùng những loạt cối 40 ly trên máy bay bắn xuống mà anh em trường sơn gọi là ‘xin thùng” đến những lúc vượt qua trảng trống với tiếng gầm của máy bayL19 đuổi theo và cả những tiềng ầm ầm của bom tọa độ do máy bay F105 ném xuống…Có đêm chỉ đi được 3km, sáng ra nhìn hố nước mà mình đã uống đêm qua thì thật kinh hãi bởi phân thú rừng đã ỉa từ lúc nào…
          Đến binh trạm 32 đoàn chúng tôi bị ném bom, cháy mất 2xe CA30 của đại đội cối, nhìn xe cháy, đạn nổ mà chẳng làm gì được. Đến khu vực trú quân  lại bị một trận bom nữa, tốp đi đầu vừa đến trạm chưa kịp đưa xe vào mang cá thì bị bom, anh em chạy sơ tán vào rừng, anh Minh trưởng đoàn bị thương nặng và hai ba chiến sĩ nữa cũng bị thương, lửa cháy ngùn ngụt tiếng rít cua máy bay còn trên đầu, tôi và hai chiến sĩ của trạm xe (Tín và Thạnh) chạy lên đập cửa kính đấu tắt khóa điện lái mấy chiếc xe ở ngoài bãi trống vào mang cá tránh lửa bén tới. Trời sáng hẳn mọi người mới trở về xe để tiếp tục hành quân, anh Minh và các chiến sĩ bị thương phải vào trạm cứu thương của binh trạm để trở ra Bắc. Cũng từ hôm đó một vài chiến sĩ đã nao núng tinh thần có ý đào ngũ, và đúng như vậy có hai chiến sĩ đã trốn khỏi đội hình đơn vị.
          Cuối năm 1971 đầu năm 1972 đường Trường sơn nhộn nhịp hẳn lên bởi ngoài tuyến vận tải nội bộ của Đoàn 559 còn có các đoàn hành quân đi thẳng vào chiến trường B2,B3 tiêu biểu là đoàn 571 của Cục Hậu cần Miền(B2), trong đó có đoàn 2047A của tôi. Theo quy định của Tư lệnh 559 xe cuả  559 phải nhường đường cho các đoàn đi thẳng.
Đến binh trạm 38 một điều bất ngờ ập tới với tôi: gặp Công Sơn. Lê công Sơn người Nghệ an, cùng tiểu đội học viên, học giỏi, tính trầm ít nói, ít tham gia hoạt động ngoại khóa văn nghệ thể dục thể thao, Sơn được điều đi B vào đoàn 559 trước tôi hơn một tháng. Ai ngờ hôm nay gặp nhau ở chiến trường mừng khôn tả. Gặp nhau ôm nhau mừng rỡ rồi hai thằng chui xuống gầm xe nằm nói chuyện thâu đêm tới sáng. Cho đến bây giờ tôi không thể nào quên những giờ phút gặp bạn đó, đêm không trăng nhưng đầy sao, yên tĩnh không bị lũ C130 quấy rầy, có lẽ chúng biết hai thằng bạn học của trường ĐHKTQS gặp nhau nên không dám đến khu vực này đánh phá. Thôi thì đủ  chuyện trên trời dưới biển chúng tôi kể cho nhau nghe, Sơn có người nữ bạn học từ thời phổ thông yêu hay chưa thì không biết, nhưng hắn nói Trâm(tên người bạn Sơn) đã thầm yêu cậu ta. Xin được trích một đoạn nhật ký của Sơn về cuộc gặp đó (đã được Hà em gái Sơn cho phép trích): Chiều hôm qua, giữa Trường Sơn đất lửa, tôi đã gặp lại Tùng Sơn, người bạn thân yêu của tôi. Đang nằm trong căn nhà dã chiến lợp ni lông, tình cờ đứng dậy đi ra ngoài, Tùng Sơn gọi sửng sốt "Sơn!". Thế là tôi nhảy ào tới siết chặt bạn trong niềm vui sướng.Chiều tối lại chỗ Tùng Sơn chơi cách 2 km. Tối đến trải bạt xuống đất, mắc màn và ôm nhau tâm sự đến hơn 1h sáng mới ngủ thiếp đi trong niềm vui gặp bạn. 
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miền Nam. Bạn đang còn đi xa hơn tôi nhiều vì tôi mới chỉ đi đến vĩ tuyến Quảng Đà, còn Tùng Sơn đi vào B2. Thế là 3 thằng Sơn đều vào chiến trường cả.Nằm tâm sự, Tùng Sơn đã kể về gia đình mình, vui nhất là điều mong muốn của mình được thực hiện: ba mẹ và các em đều khoẻ. Em Hà được vào học sư phạm 10+3. Tình hình gia đình như
vậy là rất tốt, chỉ còn mình lo công tác cho tốt nữa thôi.”
          Vậy là 3 Sơn của B5 đã vào chiến trường: Thanh Sơn và Công Sơn vào 559 còn tôi vào B2 Đông Nam bộ.                                                                         Sơn nhất quyết sau khi chấm dứt chiến tranh sẽ đi học tiếp, lấy cho được bằng phó tiến sĩ. Đúng như Sơn nói sau này khi đã về làm phó phòng quản lý sử dụng Cục ô tô máy kéo, anh ta vài lần đi thi nghiên cứu sinh nhưng rất không may đều trượt. Trượt về mơ ước học vấn phải chăng làm cho cuộc đời Sơn gặp không may về nhiều chuyện khác về gia đình riêng, rồi kết cục mà năm 2006 khi tôi nằm cùng viện 175 với Sơn thì Sơn trút hơi thở cuối cùng vì bạo bệnh. Lúc mất Sơn là Đại tá chủ nhiệm kho J250 Cục oto máy kéo-TCKT.
          Cuối năm 1972 lúc đó tôi vẫn là trạm trưởng sửa xe thuộc Đoàn Pháo Biên hòa chiến trường miền đông Nam bộ. Gặp anh Trần Ba lớp chuyên tu 221 trong một hoàn cảnh đặc biệt: nồi cháo ong thấm bom tọa độ.                         Hồi ấy sau một đêm hành quân chuyển cứ về “đồi Tám cách mạng”(một địa danh bên đất CPC tỉnh Krache), gần sáng thì tới vị trí đóng quân. Tôi ra lệnh cho đơn vị nhanh chóng triển khai đào hầm trú ẩn, mọi người nhanh chóng dỡ phụ tùng dụng cụ xuống xe, phủ bạt và phân nhau đi đào hầm. Hầm chỉ huy do tổ thợ rèn của Nguyễn thế Hệ đào. Dáng người to khỏe, cao lớn, Hệ cuốc từng nhát phầm phập mặc dù mùa khô bên đất CPC đất rất cứng như sỏi đá. Bỗng đâu những tiếng ù ù ù vang đến và trời đất như tối sầm lại…cố gắng định thần mọi người thấy một đàn ong mật vô vàn con đang ào ào xông tới đốt túi bụi…Thế là mạnh ai người ấy chạy, tôi cùng y tá Hùng mải miết chạy và chạy, đằng sau đàn ong vẫn uốn lượn đuổi theo, cổ và tay đã được nêm vài mũi chích rồi. Chạy được vài cây số thì may thay chúng không đuổi theo nữa, định đốt đống lửa để đề phòng thì nghe thấy tiến vè vè của máy bay trinh sát OV10 trên đầu, thế là đành phải ngồi trong bóng cây chịu trận. Khát và đói nhưng chăng làm được gì bởi “cứ”(tức là mơi đóng quân) thì ong đã chiếm mất rồi. Trời tối anh em chúng tôi lục tục trở về cứ, bấm đèn soi thì thật bất ngờ: tổ ong dài gần 2 mét to bằng cái bàn làm việc. Hệ và mấy chiến sĩ đốt đuốc xông khói bắt bằng được tổ ong nọ. Một nồi hai mươi mật và hai nồi con ong bắt được. Đêm ấy chung tôi nấu một nồi cháo ong ăn bù cho một ngày bận bịu vất vả, chưa kịp vào mâm thì thật bất ngờ: anh Trần Ba tới.                               Anh Trần Ba là học viên chuyên tu lớp 221 ra trường cùng cuối năm 1971, đi chiến trường theo đường bộ vào miền Đông Nam bộ công tác tại phòng quân giới miền (phòng 4), nghe tin tôi đã vào chiến trường anh lặn lội xuống thăm. Thời bấy giờ ở B2 quãng đường tính bằng giờ đi bộ chứ không tính bằng km, từ chỗ anh tới tôi đi mất 5 giờ. Gặp nhau mừng vui khôn tả, hỏi thăm bạn bè, đồng đội và ôn lại những ngày còn ở nhà tầng Vĩnh yên…Lúc nồi cháo được bưng ra tôi kể cho anh  nghe về trận tấn công của bầy ong mà mọi người trải qua giờ mới có thành quả là nồi cháo. Bỗng “ào, ào” chỉ kịp nghe tiếng xé không khí của máy bay F105 bay qua thì chúng tôi đã nằm gọn trong hầm và “ầm ầm” hai quả bom “tọa độ” đã nổ cách chúng tôi khoảng vài chục mét.                                     Đêm miền đông lại tĩnh lặng, chúng tôi lên khỏi hầm để tiếp tục cuộc chén thì ôi thôi nồi cháo đã bay mất rồi, mùi cháo còn thơm lừng với những vụn cháo vương vãi đâu đó dưới ánh đèn pin. Cũng may mà còn được một bi đông mật để đãi anh Trân Ba.
          Bây giờ có nhiều cuộc vui với nhiều món sơn hào hải vị, nhiều thức uống cao cấp đắt tiền, nhưng với người lính chẳng có món nào ngon hơn tình đồng chí đồng đội, đó là điều mà không có gì có thể mua được và cũng không dễ gì có được nếu không nếm trải gian khổ nơi chiến trường.
          Giữa  Năm 1973 bất ngờ tôi lại được gặp tiếp hai thày trò của lớp xe: Anh Bùi thức Hưng và Đỗ thành Hưng. Anh Bùi thức Hưng là giáo viên dạy chúng tôi về kết cấu oto Hồi còn ở trường anh em rất thân nhau, anh học khóa 7 Bách khoa chuyển sang làm giáo viên của trường, tính tình điềm đạm cởi mở và rất tận tình với học trò. Với những học viên có biệt tài đá bóng như tôi anh càng ưu ái. Không ngờ được gặp anh tai chiến trường Đông nam bộ những ngày sôi động sau hiệp định Pari thật vui mừng hết xiết, thật tiếc nghe đâu anh bị tai nạn xe trong khi đi công tác lên biên giới phía Bắc trong cuộc chiến 1979.  Đỗ thành Hưng quê Hưng yên, học khóa đầu trường Nguyễn văn Trỗi, được tuyển thẳng vào Đại Học KTQS, học giỏi, sau khi tốt nghiệp được phong quân hàm Chuẩn úy và được phân công về Bộ tư lệnh Tăng Thiết giáp. Khi đi B2 là đại đội trưởng sửa chữa trung đoàn tăng tăng cường cho đoàn M26 Bộ Tư Lệnh miền. Hai thằng gặp nhau ở trạm xăng dầu Lộc ninh, lúc tôi đang chuẩn bị đi phục vụ chiến dịch Phước long. Cùng tiểu đội nên tôi còn nhớ nhiều kỉ nhiệm về Hưng. Sau này khi giải phóng miền Nam, Hưng về Quân khu 9 sau đó về lại QK7 làm trưởng phòng tăng Cục kĩ thuật rồi về hưu sớm do hoàn cảnh gia đình. Hiện giờ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong cảnh sức khỏe giảm sút nặng nề: Hưng đã đặt 5 Stel trong mạch vành tim…
          Khi về căn cứ Bà chiêm Tây ninh tôi gặp bạn Trân Phượng. Trân Phượng cùng tiểu đội và cùng “tổ tam tam”, anh ta có câu nói nổi tiếng: “Tắm nhiều làm gì cho nó nhão thịt” vì bản chất của anh ta rất lười tắm, hai chân “eechdima” lúc nào cũng gãi sồn sột hầu như anh nào của B5 cũng đều nhớ cả. Phượng về BTL Pháo binh cùng tôi, về làm trạm trưởng sửa xe trung đoàn 204, khi đi B2 thì đã làm trợ lý xe trung đoàn rồi. Gặp nhau hỏi thăm được vài câu rồi chia tay vì trung đoàn 204 đã được điều động về quân đoàn 4(lấy phiên hiệu là 434), sau này khi đi chiến dịch mùa khô 1984 ở CPC tôi còn gặp Phượng ở mặt trận 479, lúc này Phượng là CNKT sư 7/QĐ4. Phượng sống ngay thẳng thật thà, khi về hưu “hoàn cảnh” đến mức phường Linh trung quận Thủ đúc TP HCM phải xây tặng cho một căn nhà tình nghĩa. Lần cuối cùng gặp nhau là ở bệnh viện 175, tôi đi điều trị mạch vành tim còn Phượng bị ung thư hạch, năm 2006 Phượng qua đời trước Công Sơn vài tháng.
          Gặp nhau trong chốc lát, mừng vui rồi chia tay ai về đơn vị nấy. Tôi tiếp tục chỉ huy đơn vị đi sửa chữa xe phục vụ các chiến dịch cho tới khi giải phóng miền nam 30/4/1975.
          Sự đời thật trớ trêu, khi còn thanh xuân vui vẻ và tếu táo, khi về già gặp nhau trong bệnh viện vẫn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ba thằng cùng tiểu đội lại góp phần phong phú thêm cho khoa A1 bệnh viện 175…
          Tôi gặp bạn trong lớp khá nhiều, song bốn bạn gặp ở chiến trường thì đã mất hai rồi. Vẫn biết sinh có hạn tử bất kì, người ta chỉ chữa được bệnh chứ không chữa được mệnh, nhưng mỗi khi nhắc đến lớp đến trường thì những kỷ niệm vui buồn đều nhớ đến người đã khuất dù rằng bản thân tôi cũng mắc nhiều chứng bệnh nan y. Cũng vì vậy mà dù không biết viết văn tôi vẫn cố ít dòng mong sao cho thế hệ học viên đi sau biết cha anh chúng đã sống và đối nhân xử thế như thế nào; để rồi
vững bước trên đường xây dựng tổ quốc trong thời đại mới hôm nay . ./
         Chuyện thứ hai:
 Sửa xe M113 dưới pháo sáng
 
          Sau thắng lợi chiến dịch Lộc ninh, cuối năm 1972 quân giải phóng mở chiến dịch Bình long nhằm cắt đứt đường 13 mở rộng vùng giải phóng chờ thời cơ tiến về Sài gòn.
          Để phục vụ chiến dịch, trước đó trạm xe của tôi đã đi sửa hết một vòng các đơn vị trong Đoàn pháo Biên hòa. Khi học ở trường tôi hay nói vui với các bạn: mình được đào tạo để “cái gì cũng biết, nhưng chẳng biết cái gì cả”. Ra trường tiếp xúc với thực tế nếu biết vận dụng “cái gì cũng biết” với tinh thần cầu thị không dấu dốt, sẵn sàng học hỏi và xắn tay áo lao vào làm với anh em thợ, những người thợ lành nghề thì sẽ “biết làm” và biết chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Trời phú cho tôi cái tính hòa đồng và điều quan trọng hơn cả là trong chiến tranh gian khổ ác liệt cận kề với cái chết thì tình thương yêu đồng đội còn quý hơn cả cái gọi là trên dưới, sĩ quan và binh lính…Vì vậy trạm của tôi đã luôn hoàn thành nhiệm vụ trên giao, cũng có chiến sĩ bị thương nặng trong chiến dịch Lộc ninh(cậu Phương bị bom ở cầu Cần lê trên đường 13), nhưng tinh thần vẫn không nao núng.
          Chiến dịch Bình Long lực lượng pháo chiến dịch chủ yếu là lựu pháo 105,pháo chống tăng 85 các loại DKZ, cối 160,120…Đặc biệt ta thu được một số pháo 155ly của địch, không có xe kéo phải dùng xe M113 thu được của địch để kéo pháo. Những trận đánh đang diễn ra ác liệt thì một xe M113 trên đường ra trận địa bị hỏng. Không có xe kéo pháo thì quả là một điều khó khắc phục bởi pháo 155 nặng tới gần 5 tấn.
          Tôi đang ở căn cứ của trạm và mới trải qua một trận sốt rét thừa chết thiếu sống, nhiệt độ lên tới 41,2 độ, trời nắng chang chang nhưng vẫn trùm chăn ngồi cạnh đống lửa . Ai đã ở chiến trường đều hiểu sốt rét là thế nào, nóng hầm hập nhưng vẫn lạnh run người, miệng khô môi nẻ cơm không ăn cháo không màng chỉ thèm dâu da rừng…muốn đứng dậy phải hai tay hai gậy chống…Có lẽ bài học vỡ lòng và chuyên sâu của người lính ở chiến trường là sốt rét. Đang nằm trên võng thì liên lạc của Phòng hậu cần gọi tôi lên Phòng nhận nhiệm vụ gấp. Tôi vơ vội quần áo tăng võng bỏ vào bồng và gọi Hệ hộ tống tôi trên đường về phòng Hậu cần.
          Anh Khanh trưởng phòng hậu cần Đoàn pháo Biên hòa giao nhiệm vụ cho tôi đi sửa cái xe M113 ấy. Anh nói: “Tôi báo cáo với Tư lệnh pháo binh, tôi chỉ còn dự trữ một kĩ sư duy nhất, nay tung ra rồi, Tư lệnh yên tâm, sẽ có xe kéo cho pháo 155ly”.
          Tôi chỉ thị cho Hệ đi sang cánh Bắc gọi Tín là thợ xe chủ lực của trạm về vị trí xe M113T(Tín học ở trường trung cấp Bộ nông trường, tay nghề rất giỏi) Gần tối chúng tôi gặp nhau ở trong một khu rừng dầu nơi chiếc xe M113 nằm chình ình một đống. Hỏi Hẩu lái xe tình trạng xe thế nào, anh ta bảo xe chạy đến đó vướng gốc cây không chạy được, tắt máy xong lên nổ lại thì không khởi động được. Hỏi không khởi động được như thế nào thì anh ta trả lời mỗi khi ấn nút nó chỉ kêu lạch cạch lạch cạch. Tôi bàn với Tín có hai khả năng: bình điện yếu hết điện hoặc khởi động có vấn đề. Tín dung hai sợi dây dẫn đấu vào hai cực bình điện quệt thử thì tia lửa rất mạnh. Đoán là nguyên nhân từ khởi động.
          Hai anh em chui vào buồng máy, máy xăng hình chữ V giống động cơ Zin130 của ta. Sờ tìm khởi đông…Không thấy đâu. Trời tối chỉ có sao không có trăng, trên đầu máy bay OV10 vè vè, máy bay C130 ầm ì thả pháo sáng, thỉnh thoảng nó quăng vài quả cối 40ly vu vơ…Vai tiếng đồng hồ trôi qua, nếu không sửa xong xe trước trời sáng thì sẽ ảnh hưởng tới quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy. Máy bay vẫn gầm rú trên đầu pháo sáng soi rõ hai khuôn mặt đầy dầu mỡ pha chút lo lắng.Tôi chợt nghĩ sao không chui xuống gầm thử tìm xem, hai anh em chui xuống dưới gầm xe, mặc cho bùn đất lấm lem quần áo mặt mũi, mỗi người một đầu gầm khảo sát. Bổng tôi thấy một vành bu long bắt  chặt một cái nắp tròn bằng cái mâm đồng ăn cơm, tôi gọi Tín bò lại và chỉ nó rồi bảo Tín tháo cái mâm này ra. Điều vui mừng tới bất ngờ bởi cái khởi động bằng con lợn con nằm chình ình ra đó…Tín nhanh chóng tháo và chùi hai đồng xu khởi động, chỉ vừa kịp vặn buloong cuối cùng của  nắp chắn tôi đã bảo Hẩu lái xe nổ máy. Tiếng máy nổ rền vang trong tiếng reo vui của mọi người…
   Bây giờ kể ra chuyện này có thể ai cũng thấy ngô nghê, lạc lõng quá tầm thường nhưng lúc bấy giờ trong hoàn cảnh chưa tiếp xúc với xe hệ hai bao giờ, lại thêm máy bay quần đảo trên đầu, thời gian gấp gáp, việc tìm thấy cái khởi động cũng là một niệm vui cho anh em tôi rồi, quan trọng hơn là hoàn thành nhiệm vụ có xe để kéo pháo. Đến lúc ấy chúng tôi mới thấy khát và đói. Cho đến bây giờ kỷ niệm về “cái khởi đông M113” vẫn rõ mồm một trong tôi, bài học ở trường là phương pháp, là tư duy, còn bài học ở đời là sự vận dụng là quyết tâm, là sự bình thản trong mọi tình huống.chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy.    
 
TR ÊN Đ ẤT TH Ủ Đ Ô
Đ ẤT  TH ÁNH__H À N ỘI
Thời gian trôi đi mà ta không để ý thì chỉ như một chớp mắt của thế kỷ mà thôi . Hà Nội , Sài Gòn tên các đường phố tôi đi và đây đó tên gọi của chúng đối với ai đó có vẻ như xa xôi như thời Trần Hưng Đạo , Quang Trung , Các tên trường học ai đó nghe cũng xa xôi như Lê Quý Đôn  , Lương Thế Vinh và V ân V ân .. Nhưng trong tôi những tên đường phố , tên trường thật gần sát ngay bên mình , và tôi lại nhớ đến những ngày chúng tôi ra trường  và đi trên khắp miền của Tổ quốc thân yêu .
  Trong những ngày hè của năm 1971 gần 300 Kỹ sư quân sự của Trường Đại học kỹ thuật quân sự trong buổi Lễ Tốt nghiệp . chúng tôi đón Tướng Vương Thừa Vũ v à Trần Đại Nghĩa về trường và Đại tá Chính  uỷ kiêm Hiệu trưởng Đặng Quốc Bảo cùng nhiều Đại tá khác trong suốt buổi lễ với bầu không khí hân hoan bởi khoá kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam , buổi lễ thật  trịnh trọng tuy không có mũ áo cử nhân như hôm nay , chỉ những bộ quân phục với quân hàm học viên sỹ quan quân đội , bởi chúng tôi chưa có quyết định quân hàm cho từng người .  Thế mà , bây giờ tên các vị tướng ấy đã là tên đường phố , tên trường học , và có học viên đã là Trưởng khoa của trường mang tên người  làm lễ tốt nghiệp cho mình và  tôi cảm thấy như thời gian ngừng trôi , bởi chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến tuổi tác của mình mà chỉ thấy mới như sau một đợt chiến dịch mà thôi.
    Sau lễ tốt nghiệp, chúng tôi trở về doanh trại và tiếp tục tập vượt núi Tam Đảo dựng đứng để chuẩn bị cho Những ngày Vượt Trường Sơn khi có lệnh vào chiến trường Miền Nam  . Lại là những ngày gian khổ mới khi mà đường vượt của chúng tôi tuy ngắn hơ n đường vượt của Sư đoàn 312 nhưng dốc núi dựng đứng và đường hành quân hiểm trở __-một con đường vạch theo bản đồ tác chiến đột nhập hẳn Tam Đảo bất chấp núi đứng dựng thách đố người lính trẻ sung sức , cùng ba lô và hành trang tới 30 kg . Gian khổ bấy giờ của chúng tôi cũng vợi đi và được khích lệ bởi các đoàn tàu hoả chở Xe tăng chiều chiều từ Ga Vĩnh Yên chạy trên đường sắt mà trên khu nhà bốn tầng xây dở dang , hoặc đâu đó trước cổng trường chúng tôi thấy mỗi chiều khi ‘hoàng hôn gần buông hoặc khi trời chiều miền trung du đầy gió .
   Sau nhận quyết đinh quân hàm thuộc hàng ngũ Sỹ Quan Quân đội , chúng tôi nhận ngay địa điểm nhận công tác ,rồi lần lượt rời khỏi mái trường Đại học đầy kỷ niệm này ..
  Tôi được nhận Quân hàm Thiếu uý cùng giới thiệu chung về Trạm 66  Bộ Quốc phòng tại Hà Nội .
     Lần lượt chúng tôi đi nhận nhiệm vụ về những đơn vị khác nhau , từ đó bắt đầu những chặng đường mới trên vai trách nhiệm của một kỹ sư quân sự cùng với sự trưởng thành vượt bậc qua  năm năm học tập và rèn luyện trong trường với lòng yêu thương và tin tưởng của Bộ Quốc phòng . Về trạm 66 nhận nhiêm vụ ,trong đại đội của tôi , tôi thấy chỉ có mình tôi và đợi cho đến cuối cùng  mới được đồng chí phụ trách phân công cán bộ của Tổng Cục kỹ thuật phân công cho tôi và anh Nguyễn Văn Trình  đại đội chuyên tu khóa 1  về Cục Vật tư ở Bưởi .
Hai anh em chúng tôi một Trung úy , một Thiếu úy Kỹ sư quân sự được thông báo về Cơ quan Cục ; Trạm 66, đi bộ đoạn ngắn chúng tôi đeo ba lô lên Tàu Điện bên vườn hoa về Bưởi .
 Cục Vật tư bấy giờ sát ngay bên bờ Hồ Tây , đối diện ở bờ bên kia là khách sạn Thắng Lợi nhô ra soi mình xuống mặt hồ xanh trong .
 Anh Trình được quyết định  Trạm Trưởng xuống Trạm Sửa chữa của Cục bên Gia Lâm  , còn tôi nhận quyết định Trợ lý Xây dựng Nhà máy của Phòng Tổ chức –Kế hoạch  Cơ quan Cục với bản đánh máy và chữ ký của Thượng Tá –Cục trưởng Trần Ngọc Giao .
  Cũng trong khi đợi ở gian nhà lá chờ  gọi là phòng khách tôi ngẫu nhiên gặp lại Nhơn người Quảng Bình cùng tiểu đoàn huấn luyện Hải Quân ở Căn cứ II –năm xưa - Trung úy , cũng đang chờ vào Cục để nhận quyết đinh , theo  Nhơn nói là để đi B , và bấy giớ nói là đang làmChính trị viên của xưởng Sản xuất Sơn và Khí Ô-Xy của Cục dưới Kiêu Kỵ --Phú Thụy Hưng Yên . Xưởng này về sau tôi được biết cũng từ Quân chủng Hải Quân  chuyển giao sang để hợp thành nhà máy mà tôi làm trợ lý xây dựng khi đó chỉ có xưởng giao sang . Và Nhơn và tôi chỉ nhận nhau sau gần 10 năm từ khi rời tiểu đoàn huấn luyên để xuống tàu và đi các đơn vị bờ biển   ; không kịp chuyện gì thì tôi và Anh Trình vào Cuc còn mình Nhơn ngồi chờ ; rồi tôi đoán rằng : Nhơn đã đi học Sỹ quan năm 1964 trường sỹ quan Hải quân –trường 45 Quảng Yên – Quảng Ninh mà năm đó tôi đã xin ở lại Khu Tuần phòng Hải Phòng không đi học , sau khi rời đoàn không số xuống tàu Tan-kít  rồi lên trạm sửa chữa Hải Phòng .
                       
   .                         TRONG  LÒNG HA NỘI
NHỚ NHỮNG NGÀY BÊN BỜ HỒ TÂY
   Sau những năm thiết kế và chỉ huy thi công nhà máy T 606 Cục Vật Tư bấy giờ , năm 1974 tôi nhận quyết đinh về lại Cục Phòng Tổ chức kế hoạch sau khi hoàn thành lắp đặt xong toàn bộ hệ thồng cung cấp và phân phối mạng Điện Hạ Áp cho Nhà máy để thiết kế tiếp theo hệ thống chiếu sang cho dãy nhà 2 tầng làm khu nhà Hành chính T-606 . Vừa thiết kế xong thì Cục Giao cho tôi và anh Hồ Ngọc An Trợ lý –Trung úy –Kỹ sư xây dựng , thiết kế và hướng dẫn thi công một khu làm việc , nghỉ ,và họp phụ của Tồng bí Thư Lê Duần trên khu đất kề bên cơ quan Tôi bấy giờ , và được biết để T.B.T khi cần thiết yên tĩnh , xa Thủ phủ khi làm việc , lúc nghỉ ngơi hay các cuộc họp .
   Tôi nhận trách nhiệm thiết kế và hướng dẫn thi công toàn bộ hệ thống điện , nước trong nhà , các phòng : phòng ngủ ,phòng khách , phòng họp cũng như khu vực nhà của các chuyên viên phục vụ ; chiếu sáng ngoài trời cho toàn khu nhà  .
    Thiết kế ánh sáng cũng như cấp nước cùng thiết bị Điện nội thất bấy giờ chúng tôi được phê duyệt trực tiếp với  Cục Trưởng  trên Bản vẽ thiết kế vật liệu trong ( Bản chính  – trên Giấy Can) .
    Trong những ngày ngồiThiết kế bên Hồ Tây , chúng tôi được gặp Tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm trước tiên khi đến Cục vì bộ phận chúng tôi là bộ phận kỹ thuật gồm Các kỹ sư và vài cô Thợ Can .
   Tôi còn nhớ : hôm đó , đang mải vẽ tạo dáng một đèn góc nhà ánh sáng phản chiếu , không để ý đến trước phòng cục Trưởng có Đại Tướng đến , khi có Cục trưởng vào Đại tường cùng vài cán bộ đi theo đến hiên trước phòng , tôi mới bỏ cây chì nhìn ra thì Đại Tướng đã đứng ngay cạnh bàn làm việc của tôi và hỏi :
__ Đồng chí học gì ?
 
 Tôi lúng túng không biết trả lời thế nào , bởi vì khi đó tôi đã vẽ hình dáng đèn góc phản xạ riêng cho phòng ngủ của Khu B ( Khu B để chỉ khu nhà của Tổng Bí Thư đang được xây ) , Nó có hình dáng kiến trúc chẳng quan hệ gì đến nhiệm vụ một việc kỹ thuật của cục Vật Tư ; Tôi chỉ biết trả lời  ;
  -- Tôi học ở Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự .
Đại Tướng ngạc nhiên hỏi :
 --Kỹ thuật Quân sự sao lại làm cái này ?
 Tôi chưa biết trả lời ra sao thì  đứng ngay sau ĐaiTướng là Cục Trưởng
 Ông rất nhanh trí và trả lời ngay :
   --Việc này cũng thuộc về Điện .
 Đại tướng rời khỏi bàn tôi và bắt đầu thăm hỏi từng người từ chuyên môn cho đến nơi tốt nghiệp rất thân tình và quan tâm .
   Tôi gặp Đại Tướng lần đầu đã để lại trong tôi lòng kính phục và yêu mến bởi sự gần gũi , tác phong gọi là rất quần chúng đượm một màu thân thiết tình đồng chí không phân biệt ông là chỉ huy và ở cương vị thống lĩnh quân đội nhân dân việt nam . . những năm ấy Đại Tướng không khỏe ,. người gầy và thường hay xuống cục tôi để bơi thuyền và nghỉ ngơi bên bờ Hồ Tây này yên tĩnh và mát …
 Công việc xây khu nhà đang tiến hành lắp hệ thống điện thì chiến dịch đánh chiếm tây nguyên diễn ra ác liệt , nhưng chúng tôi ở ngoài Thành và là bộ phận Kỹ thuật nên không biết tin gì từ Cục Tác chiến .
  Một chiều ,tôi từ khu B về phòng gửi cặp bảo mật để thể thao chiều thì một cô văn thư thân với tôi bảo rằng :
  __Anh có quyết định đi B đấy .
 Tôi nói :
 __Không biết , mình vừa bên Khu B về !
    Hôm sau , Tôi thấy quyết định anh bạn – Trung úy Lê Đình Tấn  cũng cấp với tôi – Kỹ sư cơ khí chế tạo Bách khoa Hà Nôi khóa 7 . nhận quyết định cùng Cục Phó  Ngô Kỷ đi B .
  Đó là khi vừa giải phóng xong Ban Mê Thuột và Cục Phó và một kỹ sư giỏi , có năng lực và biết ngoaị ngữ đi để thu hồi toàn bộ vật tư và chiến lợi phẩm sau khi quân ngụy tháo chạy .
   Khi từ Ban Mê về mang về Cục trước khi chuyển tổng cục , tôi mới mục sở thị bộ Grande La Rouss của Tiếng Pháp mà trước đây chỉ có trong thư viện cuốn Petite La Rouss . Nó gồm 24 cuốn khổ Letter , một cuốn cho một chữ cái pháp ngữ .
       Khi đó  tôi có quyết định đi B là văn bản do văn thư đánh máy để xin chữ ký Cục trưởng  nói cho tôi biết ; nhưng bấy giờ  phải dừng  công việc khu B , nếu tôi đi Ban –Mê- Thuột như điều động của phòng cán bộ -chính trị Cục  .
     Kể từ khi giải phóng Ban Mê Thuột , cuộc tiến công giải phóng miền nam và đánh vào Sài Gòn dần dần bắt đầu vào chiến dịch mới mà mãi sau này mới gọi là Chiến dịch Hồ Chí Minh , chúng tôi vẫn tiếp tục phải hoàn thành công trình xây dựng của bộ giao cho Cục chúng tôi .  Trong thời gian gọi là Chiến Dịch Hồ Chí Minh và khi hoàn thành , giải  phóng Sài gòn ,thì chúng tôi cũng đã hoàn thành xong khu B của Bộ Quốc phòng giao cho.
     Trong những ngày đầu hoàn thành sau giải phóng Sài gòn , tôi cũng đã được gặp Tổng bí thư Lê Duẩn vừa từ Sài gòn ra đến xem , kiểm tra Khu B , có khi bằng Xuồng máy từ phía bờ Khách sạn Thắng Lợi sang , có khi đi Ôtô vừa lấy từ phía nam ra .
  _Trong một ngày nghỉ , Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi đi nghỉ bằng Pê-Rit-Xoa từ phía khách sạn ghé lên Khu B   Phía ngoài Khu B cạnh đường là một trường tiểu học . khi biết Thủ Tướng đến thăm khu B, Các cháu học sinh tiểu học quanh đấy gọi nhau đến xúm quanh Thủ Tưứng và Thủ tướng than mật chuyên trò thăm hỏi .KHi đó Thủ Tướng gầy gò lắm
   Những lần đi bên Tổng Bí Thư và Thủ Tướng trong Khu B đã cho tôi một cảm nhận tốt đẹp về các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam chúng ta ; đó là sự gần gũi nhân dân và được nhân dân tin tưởng , yêu mến , nhất là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Từ người già , trẻ nhỏ ai ai cũng kính trọng và yêu mến .
    Đối với Đại Tướng đã để lại trong tôi một tác phong giản dị , sâu sát của một chỉ huy , một Tướng lĩnh gần gũi với mọi cấp sỹ quan trong quân đội nhân Dân việt Nam .
Một Bản lĩnh Tướng Soái Việt Nam .
     
Cho đến bây giờ tôi mới hình dung ra những nẻo đường các kỹ sư quân sự khóa 1 , sau khi ra trường tỏa đi khắp đơn vị quân đội phục vụ cho cuộc kháng chiến giành đọc lập tự do trong giai đoạn vũ khí và phương tiện chiến tranh là quan trọng nhất ; chúng tôi người đi chiến trường , người ở lai hậu phương trong các cơ quan khoa học và kỹ thuật để xây dựng một hậu thuẫn kỹ thuật quân sự trong cuộc chiến .
   Trong những ngày vừa về Cục , tôi gặp Lê Kinh Tuyến ở Viện Nghiên cứu Kỹ thuật quân sự khi tôi sang tham dự , nghe một hội thảo và báo cáo Đề tài Nghiên cứu của Viện . Có thể nghĩ rằng các kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam không những có mặt trên các chiến trường , các quân đoàn binh trạm và cả trên thủ đô  đều đóng góp hết sức mình để đi đến thắng lợi 30 tháng 4 1975 , xứng đáng là đầu đàn của Học viện hôm nay .
NHng Ngày B52 M  Di bom xung Hà Ni
 
Vừa tốt nghiệp ra trường , tôi được điều động làm trợ lý xây dựng nhà máy và lao vào công việc bổ túc tri thức loại hình thiết kế mà trong trường chúng tôi chỉ được học đúng theo hệ kỹ thuật quốc gia bấy giờ . cho nên , khi Thiết kế các phân xưởng sửa chữa cũng như thiết kế các hệ thống Dân sự , tôi phải “tự” đào tạo ;­học và nghiên cứu phù hợp với các công trình dân sự mang tính quốc phòng chứ không phải các trận địa  T_Tên lửa hay Pháo 100 , hay một trận địa RA- Đa nào đó . Trong đó cần tự học và nghiên cứu thiết kế nhà máy , phân xưởng Sản xuất và sửa chữa Công nghiệp ; cũng như vậy với Hệ thống chiếu sáng và đặc biệt là Hệ thống chiếu sáng bằng đèn huỳnh quang mà trong trường nó nằm ngoài chương trình đào tạo ; do đó tôi phải học thêm và nghiên cứu qua giáo trình mới , tìm trong Thư viện Khoa học Kỹ Thuật TW__ Lý Thường Kiệt bấy giờ ; Khó khăn không phải gặp kẻ thù như ngoài chiến trường , tiền phương mà phải tiếp cận với cái mình chưa được học , cho nên phải Tự học trên giáo trình mới và trên thực tế các xí nghiệp bấy giờ . còn chiếu sáng bấy giờ , dùng đèn huỳnh quan như là một sự chiếu sáng sa xỉ đối với nhân dân ., vì là khu nhà của Tổng bí thư nên tôi phải đọc và học hết một giáo trình chiếu sáng điện bằng đèn huỳnh quanh bằng Tiếng Nga cà vừa học vừa Thiết kế ; bấy giờ nhiều người kêu ca là tôi dùng nhiều đèn quá , rồi sau ngày giải phóng Sài gòn người đi công tác trong đó ra lại bảo ánh sáng khu B ăn thua gì ! …; lại trong chiến tranh chống bắn phá của Mỹ nên Dụng cụ chiếu sáng thích hợp hầu như không có , kể cả trong Tất cả các kho Vật Tư Công nghiiệp của Cục tôi , ví như chụp đèn chiếu sáng ngoài trời  , blog , giá đèn huỳnh quang đều không kiếm đâu ra . Để tìm một chụp đèn cổng vào khu B thôi, tôi tới Các kho và vào cả xí nghiệp Thủy  Tinh Dân Chủ , xí nghiệp Thủy Tinh Hà nội bấy giờ , đi cùng cán bộ chạy Vật tư của Cục , vẫn không có ; cuối cùng đành lấy một chụp đèn trần trên tàu biển thay cho Chụp đèn tương thích cho Cổng ra vào khu vực .
  Những ngày nóng nực dưới trời Thủ đô , đúng là nắng lửa , đúng vào dịp chiến tranh phá hoại của miền Bắc của Mỹ leo đến mức ác liệt và chúng kiên quyết nhất , trường Đại Học Bách khoa phải tạm  dừng học tập để sang phục vụ quân đội . Đó cũng là thuận lời cho tôi khi vừa ra trường và cùng phối hợp với các giảng viên Đại học Bách khoa cùng thiết kế và bảo vệ thiết kế , cũng như sự kiểm soát thiết kế của tôi bấy giờ do một vài Phó tiến sỹ phối hợp .
   Công việc thiết kế nhiều , bản vẽ lắm  , nơi làm việc không thể tập trung và khó có thể xa Hà Nội đến nơi sơ tán của Bách khoa , , nên tôi làm việc ở cơ quan bên bờ hồ tây phia Bưởi thường phải đi theo dõi và phối hợp trong trường Bách khoa cuối đường tàu điện , nhưng chiến tranh không thể ngồi tầu điện mà phải cuốc bộ đi làm việc bởi mới về cơ quan chưa có xe đạp phân phối để công tác . Đó cũng là những tháng ngày cũng tốn nhiều sức lực trong khi đó các đồng đội tôi , bây giờ tôi mới biết , rất đông đang lăn lộn trên chiến trường Miền nam và các quân đoàn cơ động , còn tôi chỉ mệt nhoài giữa Thủ đô mà thôi . .. Và tronh sự mệt nhọc do ddi bộ dọc Hà Nội mà tôi “ nghiệm trên người mình “ ché nước chè 4 hào rưởi đặc quánh, từ đó … ..băt đầu uống trà và   … nghiện trà luôn !
       Ở Hà Nội cho đến khi tôi chuyển ngành ra ngoài , những ngày  Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống Thủ đô ta cũng là những ngày không thể nào quên của tôi trên đất Thăng Long  Hà Nội .,cùng với những năm tháng sống trong lòng Hà Nội .
 
KHÔNG ĐỀ
Những người con được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội rổi rời Hà Nội đi chiến đấu ,cũng như những người con của Hà Nội từ miền đồng bằng Hồng Hà lân cận về Thăng Long trong sắc phục quân đội Nhân dân V.N qua trọn vẹn cuộc chién tranh vệ quốc và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam , trong thế  kỷ 21 này người Nam kẻ Bắc , người trên Thủ đô , hết thảy đều tự hào về Thủ đô thân yêu của chúng ta , biết bao vui buồn , kỷ niệm và tình yêu .
   Tôi nhớ lại Nguyễn Huy Tưởng với những Tiểu thuyết “ Sống mãi với Thủ Đô “ và Trong lòng Hà nội “ ___ tiểu thuyết như một anh hùng ca của thế hệ trẻ cha anh chúng ta , những thanh niên thủ đô bất khuất , và như vậy nghĩ về Những người ra đi chiến đấu từ Thủ đô và được về Thủ đô trong Bộ đội Việt Nam đã nối gót được người xưa nhưng trên khắp mọi chiến trường dọc theo mảnh đất việt Nam dài và hẹp với dải Trường Sơn trùng điệp hàng ngàn cây số từng đoạn uồn mình quanh sát biển Việt Nam cũng làm nên nhiều huyền thoại trên rừng dưới biển      .
    Tôi về Thủ Đô từ khi là một Binh nhất Hải quân và rồi sau mấy năm là Trung sỹ Hải quân với những lớp học ngắn ngày cả về Văn hóa ,cả về thể thao, cả về kỹ thuật vài tháng , cả trong hòa bình , cả trong chiến tranh .Hà nội gần 10 năm trong nhiệm vụ Sỹ quan kỹ sư kỹ thuật quân sự thì những kỷ niệm ký ức về công việc , bạn bè không phai cho dù năm tháng đã thay màu sắc : chiến tranh , hòa bình . kinh tế , quân sự trong một thời đại nào cũng thế mà thôi .
     Có lẽ , tình bạn , tình đồng chí , tình thày trò của chúng tôi trong Khóa  đầu của Học viện Kỹ thuật Quân sự hôm nay có đặc thù riêng không khóa nào , trường nào , thời nào có ; bởi đó là tình đồng chí từ khắp miền Bắc trong 3 quân chủng khoác ba lô rời vị trí chiến đấu tập luyện về trường trong niềm tin của Bộ quốc phòng  và đồng đội cùng nhau cùng một tuổi thanh xuân đầy ước mơ hoài bão cống hiến cho đất nước đang hừng hực khí thế cách mạng của nửa sau thế kỷ thứ 20  , tình cảm đồng đội , bạn bè bắt nguồn từ những người lính không có gì ngoài  tình yêu và ước vọng , cho nên vô    đến ngây thơ trước cuộc sống đời thường  .
  Những năm cuối của khóa học tốp cùng tiểu đội tôi ở Vĩnh yên  có “ Ngô Ngọc Vĩnh , Nguyễn Ánh Sáng và Nguyễn Văn Đáo ; tình đồng đội trong những năm đèn sách còn theo tôi trong những năm sống trong lòng Hà Nội.
  Chuyện xem ra chẳng có gì đáng kể , nhưng tôi nghĩ đó là những mẩu đới mất mát và thiệt thòi trong một đất nước như nước ta và với người lính , người sỹ quan quân đội như một hy sinh thầm lặng mà có chiến công cũng dựng lên trên những đau khổ nơi hậu phương trên tay người vợ hiền và bé thơ ..
   Khi ra trường và trước khi đi B , Vĩnh cưới Dương Vân Kim con gái thứ trưởng Dương Bạch Liên tôi không dự và cũng không hay , chỉ biết họ yêu nhau khi tôi và Vĩnh cùng đóng quân ở Văn Tiến , trong một cái buồng đầu trái chỉ vừa đủ cho 2 phản cá nhân tôi và Vĩnh để cùng nhau đèn sách , có khi cùng về Hà nội và chúng tôi qua nhà Vân Kim ở 67 Nguyễn Thái Học .
  Năm 1971  hoặc đầu 1972 gì đó . Kim sinh con trai đầu lòng khi Vĩnh đang trong chiến trường Nam bộ , tôi không biết ở đâu . Một chủ nhật tôi đến thăm Kim và bé con Vĩnh thì thật mừng vì bé giống Vĩnh hơn một tượng do một nghệ sỹ ưu tú tạc cho .
  Tưởng như sẽ là tốt đẹp và hạnh phúc với một cháu ngoại của một Thứ trưởng thứ nhất ; nhưng thực tế phũ phàng đã đảo ngược niềm hạnh phúc kia .
   Chừng hơn 4 tháng sau cũng một ngày chủ nhật tôi ghé qua 67 Nguyễn Thái Học để thăm Bé con Vĩnh ; nhưng thật không ngờ , chỉ vì thiếu sữa mẹ , phải dung sữa bò cho ăn ngoài , nhưng sự vô trách nhiệm của bảo mẫu nhà trẻ , vì khi đó Kim phải đi làm trong xí nghiệp Ô-Tô 1 . 5 Hà Nội . Bé bị đi ỉa mất nước và lìa khỏi cõi trần trong khi người thân sinh xa biền biệt nơi quân ngũ .
    Nhưng số phận con người còn nghiệt ngã hơn.
Hà nội .
    Một sáng đầu tuần trước khi đến giờ làm việc , chúng tôi ngồi chuyện phiếm ,uống trà bốn hào rưỡi – chè nước văn phòng thuở ấy ; nói chuyện về bạn bè tôi , Đào Kim Chi Kỹ sư ô tô bách khoa khóa 7 , nhân vì nhắc đến hôm tôi đến thăm nhà Vĩnh - Kim khi đã chuyển về Lê Phụng Hiểu – Hà Nội , Chi nói : Cháu nội Ngộ chết rồi còn đâu ! , Chi biết , vì Chi không ở trong doanh trại cơ quan mà vì được ở tại gia với bố là Vụ Trưởng ở bộ Tài chính cùng bộ mà bố Vĩnh là VụTrưởng  . Nghe tin ấy tôi bán tín bán nghi , ngay sau đó , chủ nhật nghỉ , tôi đến Lê Phụng Hiểu và Kim nói rằng cháu cũng bị mất nước và bỏ đi .  Thật bất ngờ , vài tháng trước đó tôi đến chơi Bé đã đâu 1 năm tuổi trắng và đẹp .  Lòng tôi bấy giờ nhe se lại nhất là trong tôi thường nghĩ cháu ngoại thứ trơngr , cháu nội Vụ trưởng mà sao đên đủi ! ? rồi tf đấy tôi không tin tưởng vào Bệnh \viện sinponne –Pháp  trên đất thủ đô .
     Trước khi về ở Lê Phụng Hiểu ,Tôi có đến chơi với Vĩnh ở Nguyễn Thái Học khi vừa ở đơn vị xa về Hà Nội ; từ đó đến nay chúng tôi bặt tin do tôi ít có dịp đi ra phố Hà Nội mà tập trung làm việc trong cơ quan và ngày nghỉ lại phải đạp xe về Nam Định thăm nom vợ con và mẹ già , rồi tồi về     Nam Định khi mấy cơ quan bộ Ngoại thương và Ty Lao động Hà nội không chắc cho cả vợ con tôi về Hà Nội và rồi về hẳn Nam Định sau khi Tổng cục kỹ thuật xem xét và đồng ý cho chuyển ngành sau khi hai anh điều phối Cán bộ đồng cấp với tôi , một   phụ trách cán bộ khu vực Hà Nội , một phụ trách Cán bộ Khoa học kỹ thuật , thuyết phục tôi không chuyển ngành , Tôi thấy trong việc điều động đi nơi khác là một điều  động đầy tính cá nhân, tiêu cực chất đầy nên dự tính xin về  nơi khác Tổng cục kỹ thuật , nhưng rồi tôi có quyết định của Tổng cục – Ban chính sách  đồng ý , tôi về hẳn Nam Định sau hơn 4 năm đeo quân hàm trung úy ở Hà Nội .
.  TRONG 12 NGÀY ĐÊM
HÀ NỘI DƯỚI BOM MỸ
 

    Cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc Việt Nam của Mỹ đang ở gian đoạn ác liệt nhất thì chúng tôi trong trường , khi tốt nghiệp , có thời gian bọn mỹ buộc phải tuyên bố “ném bom hạn chế “ bởi vì càng dùng nhiều phi cơ pháo đạn dội xuống miền Bắc càng thiệt hại gấp bội mà không khuất phục nổi Việt Nam ta , còn bị thế giới lên án . trong thời gian Mỹ ném bom hạn chế trên  một số tuyến đường phia bắc vào Nam  Đoàn quân của các kỹ sư quân sự khóa 1 như Lê Tùng Sơn đã viết : dong cờ sao vàng trên nền xanh đỏ tranh thủ đi ngày đi đêm vào sâu trong chiến trường Đông Nam Bộ , còn trong lòng Thủ đô Hà Nội nhân dân yên ổn và tranh thủ những ngày hòa bình để sản xuất và xây dựng kinh tế , Đường phố tương đối thanh bình và Tôi tranh thủ tối đa thời gian để học thêm , đọc thêm các giáo trình Đại học phục vụ cho nhiệm vụ thiết kế , cũng như học tại chức Tiếng Anh trong trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội , đồng thời học lại phần đầu phát âm tiếng Pháp đã học từ thời Pháp thuộc và ngay sau hòa bình 1954 ở Nam Định . Công tác , học tập  bấy giờ tuy vất vả , hiếm thời gian nhưng là niềm đam mê của chúng tôi trong lòng Hà Nội .
    Nhưng chẳng bao lâu . Tháng 12 năm 1972 , thua trên chiến trường Nam Việt , Mỹ dùng Máy bay chiến lược B52 ném bom tàn phá Thủ Đô , Mỹ nhằm mục tiêu san bằng thủ đô Hà Nội để giành thế thắng trong hội nghị Paris họp giữa Mỹ và 2 ngoại giao đoàn Bắc Nam , nhưng thực tế đã đảo ngược mong muốn của Mỹ .Tôi không nhớ trong ngày thứ mấy của 12 ngày đêm Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống .
 Hôm đó khoảng đêm về sáng , còi áo động của Thành phố rúc một hồi dài báo động Máy bay bay bào ném bom Hà Nội . Tôi đang ngủ trong phòng vừa làm việc vừa ngủ của bộ phận \quân lực Phòng tổ chức kế hoach cục , bên ven Hồ Tây , nghe còi tôi chạy vào hầm để ngồi ngủ tiếp , hầm chữ A  bằng tre phủ dầy lớp đất . Hầm tôi trú được 3 người ngay đầu hồi ngoài sân . Lúc đầu chúng tôi nghĩ Bọn Mỹ sẽ không ném xuống rìa Hồ Tây  nơi cơ quan Cục tôi , nên tôi buồn ngủ ngồi trong hầm ngủ gật , còn một số đồng chí ngó xem pháo và Tên lửa của ta bắn rực đỏ bầu trồ Thăng Long .
 Thình lình , tôi hoàn toàn vô cảm trong phần giây như mình không có trên đời , phần giây sau đó tôi bừng tỉnh và thấy trước mặt tôi là hai đồng chí đạp nhau nằm trên vũng máu , một người cạnh tôi máu chảy tứ đầu xuống vai ; thế là hầm tôi trú ẩn dính Tên lửa CỦA PHI CƠ MỸ .  ngay lúc đó cũng vừa khoảnh khắc im tiếng bom đạn , tuy chưa báo yên ; tôi nhảy ra khỏi hầm kêu cấp cứu , nhưng sân cơ quan lặng ngắt như bãi chiến trường . , dăm phút sau chúng tôi goi xe con đưa đồng chí bị trọng ythương vào Quân y viện 108 cấp cứu . Tôi dục lái xe và vài đồng chí đi theo , cùng tôi vừa đi vừa cầm máu để nhanh chóng vào Viện . May thay người trọng thương cứu được , chỉ phải lấy đi một con mắt và bó vỡ một bên vai . còn tôi hoàn toàn không dính mảnh nào .
.
  Trời sáng , chúng tôi dọn dẹp và tôi xem thấy ngay sau lưng chỗ tôi ngồi chỉ còn không đầy 2cm đất nữa là sập hoàn toàn ngay sau lưng tôi ., còn những mảnh vuông như hạt ngô cắn đầy gáy sách của tôi nơi đầu giường và màn chăn thủng lỗ chỗ khắp nơi .
   Qua lần hầm tôi bị đạn  từ đâu đó trong trận khống kích của Mỹ đợt bắn phà bằng đạn bom tọa độ tức là theo tọa độ mà cường kích không kể mục tiêu dưới mặt đất , tôi cẩm nhận được một phần giây đồng hồ . Và , một Đồng chí Đảng viên , cùng chi bội –Thượng sỹ , thương binh ¾ bấy giờ từ chiến trường miền Nam về Cục làm thống kê quân lực chết ngay trên đất thủ đô ngỡ đâu là “sống thọ” Tôi thầm nghĩ ; Thật đau sót , trên chiến trường máu lửa không chết , về Thủ đô chết để lại người vợ trẻ và hai con thơ dại nơi quê nhà cách Hà Nội chừng 40 ki-lô-mét . __ Ứng Hòa Hà Tây  . Chiến tranh mà !
     Sau hôm bị bom các Phòng đều ăn ở và làm việc trong  hầm chữ A rải rác , , khi bom B52 dữ dội ,  chúng tiôi phải trú ẩn trong hầm Bêtông đã xây trước đó  ; nhưng an toàn tính mạng vẫn không tuyệt đối mà ngược lại Tiếng máy bay , bom đạn nổ còn lộng óc khi ngồi trong hầm Bê Tông khó chịu nổi .
   Sau một tuần lễ đánh phá của B52 , chúng tôi có lệnh , những Cán bộ không cần giải quyết công việc thường nhật cấp phát vật tư hoặc kế hoạch quân lực thì đi sơ tán xuỗng các cơ sở ,đồng thời giúp cơ sở trong công việc hàng ngày .
     Tôi được phái đến sơ tán ở nhà máy T-606 năm trước tôi đã được cục biệt phái xây dựng ở đó và giúp đớ phòng kỹ thuật và giám đốc trong những khó khăn , vướng mắc về kỹ thuật .
    Nhưng cũng nơi đây chẳng mấy an toàn vì theo đường chim bay thí cách bến Phà Khuyến Lương không xa là mấy , tôi ẩn trong hầm đất còn nhân dân sợ hãi , họ bỏ chạy hết ra hầm trú ẩn ngoài cánh đồng .
    Những ngày bom B52 hà nội tôi không có tin tức gì về các cuộc ném bom của Mỹ ; nhưng nhờ chiếc Radio  tự lắp gì đó của chủ nhà nơi tôi ở sơ tán nên ngay sau khi kết thúc ném bom và tuyên bố chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc là tôi lên xe đạp về Cơ quan Cục .
    . Sau những ngày Hiệp định đình chiến, Paris được ký kết tôi lại tiếp tục về Trường  Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà nội để học tiếp năm thứ 4 đại học anh văn tại chức và lớp tiếng Pháp của Hà Nội .
   Sau giải phóng miền nam 30/4/1975 xong xây dựng khu B – của T B T Lê Duẩn Tôi chuyến sang phòng Quản lý kho và làm nhiệm vụ quy hoạch và quản lý kỹ thuật các kho thuộc Cục cũng như thiết kế các phương tiện bốc dỡ trong kho theo mục tiêu giảm bớt sức lao động chân tay và giảm lao động trong kho cùn với việc nghiên cứu quản lý vật tư theo mã  hóa  . .
 Cho nên tôi hay phải đi công tác xuống các kho và đoàn vận tải , bởi thế việc học ngoại ngữ không bảo đảm thường xuyên và ngày thi lấy bằng đại học tôi không có mằt ở Hà Nội   .
     Những năm công tác và làm việc ở Hà Nội  tôi chỉ gặp lại dăm bạn đồng đội thân thiết trên phố thủ đô , rồi dần không gặp được . Vả chăng , những ngày sống trong lòng Hà Nội vì bận rộn với việc thiết kế thi công và học , đọc sách , lại còn đạp xe về Nam Định nên liênlạc của tôi với đồng đội khóa một dần mất .
    Tôi còn nhớ , ngày 30/4 1975 buổi tối , tôi cùng bạn đồng cấp  cùng phòng bên Kế hoạch Trung úy Khúc Anh Phẩm người vừa về phòng tôi sau khi ở chiến trường miền nam ra, cùng nhau đạp xe vòng quanh phố phường Hà Nội , trong long sướng vui khôn xiết ./
       
 Nói là những kỷ niệm và dấu ấn lịch sử thì riêng tôi chẳng có gì mà chỉ viết lại để nhớ về một thời sỹ quan kỹ thuật trong lòng Hà Nội , may mà không đổ máu chỉ toàn là mồ hôi và nước mắt với lòng say mê : sống, học tập , và phục vụ Quân đội nhân dân Việt Nam mà tôi đã xác định – suốt đời khi đã là một học viên khóa đầu tiên của học Viện K T Q S hôm nay từ khi rời quân chủng Hải quân từ ven bờ Hạ Long  về trường đại học /  
                                    
  
Mu chuyn bên l
Mùa hè , kỳ nghỉ hết  học kỳ  là mùa nghỉ ngơi của sinh viên các trường Đại học , nhưng chúng tôi , những học viên trường đại học kỹ thuật quân sự hầu như không được nghỉ , cũng chỉ như là những ngày sau chiến dịch mà thôi . Bởi vậy , hầu  hết đều được bố trí đi lao động ,hoặc là lo cho cơ sở vật chất năm học tiếp theo , hoặc dã ngoại  đi giúp nhân dân  , cũng có thể đi phục vụ ở các đơn vị bảo vệ miền Bắc trên các trận địa ; chúng tôi có số ít được lưu lại ở nhà để thực tập gọi là “nghiên cứu “ .
  Xóm làng yên tĩnh , đồng đội đi lao động , dã ngoại đâu đó , chừng dăm bảy người chúng tôi được bộ môn Sức Bền Vật liệu , bấy giờ do Trung uý -- Giảng viên tổ trưởng bộ môn sức bền vật liệu __ Nguyễn Khoa Thịnh  tập họp để hướng dẫn học, kết hợp với nghiên cứu về một số vấn đề trong Sức bên vật liệi như : ứng suất trong các ống dầy và các bình vỏ mỏng cũng như trạng thái ứng suất khối , chúng là những vấn đề không có trong chương trình đại học của bất kỳ trường đại học nào lúc bấy giờ . Tôi chỉ còn nhớ , hình như trong nhóm gọi là nghiên cứu đó có Lê Kinh Tuyến , Nguyễn Đình Thắng , Nguyễn Đình Năng , Lê Công Sơn ,…( sau này chúng tôi được phân công học ngành Đạn , Ô tô- tăng xích và Trạm nguồn điện ) được chỉ định và mỗi người một đề tài khác nhau  và có cũng chỉ những phần mở đầu cho một đề tài nghiên cứu hoàn thiện mà thôi , nhưng nó đòi hỏi phải tập trung tư tưởng và trí tuệ, học thêm cái gọi là “vạn sự khởi đầu nan “ mà “vạn sự khởi đầu nan “ thì chính Kar-Mark cũng phải thừa nhận như trong những lời đầu của cuốn “TƯ BẢN “ của Ông , có thể không là nan giải .
  Bắt đầu tôi được phân công chứng minh Biểu thức toán học cuối cùng của Trạng thái Ưng suất khối biểu diễn trên Vòng tròn MORH mà mhư anh Thịnh nói : không có cuốn sách hoặc tài liệu nào có trong tay đã chứng minh nó .( trong chương trình học , chúng tôi cũng không học và không có bài tập về trạng thái ứng suất này , trên một số giáo trình sức bền cũng không đề cập đền nó và hầu hết các sáh bài tập cũng không có bài tập về nó , tôi về Hà nội chỉ tìm được ở hiệu sách khoa học kỹ thuật một cuốn bài tập sức bền bằng tiếng Nga có Viết Biểu thức Toán cho trạng thái ứng đó để làm bài tập mà thôi .
   Bấy giờ , quần áo mùa hè của chúng tôi không được đẹp như hôm nay mà nó xuyềnh xoàng đến nhọ nhem , bởi đúng lúc quân đội ta gặp khó khăn nhất trong quân nhu , hậu cần , nhất là lại không đeo quân hàm học viên khi về Hà Nội dưới trời hè của Thủ đô .
  Chúng tôi , quân phục không quân hàm  đội mũ  không có quân hiệu như những anh nhà quê ra tỉnh .
  Tôi và Lê Kinh Tuyến vào hiệu sách Ngoại văn  khoa học kỹ thuật mà trên quầy sách , các tầng sách hầu như chỉ có Sách tiếng Nga , Tôi chỉ và nói cô bán sách cũng còn trẻ như chúng tôi lấy một quyển trên  tầng giá sách có bìa cứng và dày ; Cô ấy bảo chúng tôi :
__   Quyển ấy nhiều chữ lắm đấy các anh ạ !
  Tuyến vốn là một tay mà tôi thường vui coi như con cháu của Đại văn hào hài ,viết truyện cho thanh thiếu niên và nhi đồng --Truyện “trẻ con “ _An-Đec-Xen , Tuyến bèn chỉ tay vaò một cuốn sách trước mặt có mấy chữ cái và nói :
  __Vậy thì cho tôi xem quyển sách có thật đại to  kia kìa .
  Cô hàng sách lẳng lặng không nói gì nữa mà với tay lấy cho chúng tôi cuốn sách tiếng /nga muốn xem hoặc mua .
  Đi trên ngã tư Tràng Tiền hai chúng tôi cuòi vui vì câu nói hài mà xúc tích của Tuyến .
          
                                                                                       
              Trong nhưng ngày vừa học vừa nghiên cứu ngắn ngủi sau chính khoá , dưới trời bom đnj miền trung và Nam bộ, bấy giờ , giữa những lúc nghỉ khi Anh Thịnh xuốn chỗ chúng tôi tập trung học , ngồi giải lao trò chuyện thân tình như những an hem , đồng chí đi trước ; Anh Thịnh nói chuyện với chúng tôi về “Tính Đối xứng” trong khoa học  , và tôi nhớ mãi chuyện anh kể :
  đại ý là ; có một lần , một nhà khoa học nghiên cứu về Nguyên tử và Năng lượng Nguyên tử sang làm việc với các nhà khoa học V. N trong lĩnh vực nay , nói chuyện ngoài lề và hỏi nhà khoa học của ta((hình như ông Nguyễn ĐiìnhTứ)) đang nghiên cứu về tính đối xứng ;
    bỗng nhiên Nhà khoa học Mỹ hỏi :
__Ông là người nghiên cứu về “Đối xứng “
Ông thấy thế nào về sự đối xứng khi mỹ xuống thang trong ném phá hoại miền Bắc mà miền Bắc không rút quân khỏi miền Nam ???
  Nhà khoa học của ta trả lời :
 __Ông cũng là người nghiên cứu về đối xứng  , tôi cũng là người nghiên cứu về đối xứng, vậy hẳn ông biết rõ ; Tiền đề không đối xứng, thì kết quả cũng không thể đối xứng .
   Và nhà khoa học Mỹ không thể nói gì thêm ! ?
   Mãi sau này khi đã nghỉ hưu lâu lắm , xem trên truyền hình VTV tôi mới biết giám đốc hoc viện kỹ thuật quân sự V N là  Tướng Nguyễn Khoa Thinh năm nào , khi đó anh đã béo hơn hồi còn Trung uý .
                Có lẽ như anh Nghiêm Sỹ Chúng nói đúng : chuyện vụn vặt nhưng không quên và gợi lại một thời đáng nhớ .
  
 
Sunday, April 21, 2013
       
 
 
 
    
 
 
 
                         
  
N Dung   các bài viết
*    Lê Tùng Sơn __Trên Chiến trường B2 –Đông Nam Bộ
*    Và Dọc Đường Trường Sơn
*    Đỗ Dăng Đích ___ Trong lòng Hà Nội và Bên Bờ Hồ Tây  
 

 
Son tho văn bn : Đỗ Đăng Đích
 L ê  T ùng  S ơ n g i bài iết qua Email 
                        
Sunday, April 21, 2013  
The Printed proce ded  prc es by Đ Đ ăng Đ ích      
 
 
 

   L Ê T ÙNG S ƠN   ---    Đ Ô Đ ĂNG Đ ÍCH
 
 
 
 
Hồi ký .
Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự V.N
KHÓA I _C213Lê Tùng Sơn -Đỗ Đăng Đích
 
 
  
 
N Dung   các bài viết
*    Lê Tùng Sơn __Trên Chiến trường B2 –Đông Nam Bộ
*    Và Dọc Đường Trường Sơn
*    Đỗ Dăng Đích ___ Trong lòng Hà Nội và Bên Bờ Hồ Tây 
 
 
 
 

 
 


       
   

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét