Trái Tim mách bảo
Mối tình của em
Tình bay vút như lão gia khờ khạo.
Mối tình đầu say đắm
Mãi là của Anh đằm đằm
Mối tình đầu bởi mãi yêu anh
Mối tình mà rồi bà lão khát khao
Khi mỗi lúc lòng tự
hào kiêu hãnh
Một thiên thần mộng mỵ xa xăm
Nếu trong Em mùa Thu vàng rơi rụng
Lá vàng rơi dưới trăng rằm xơ xác
Ánh trăng vương nơi
cầu vai chiến thắng
Cánh sao rơi , tiến
sỹ cũng nửa vời
Đời cho hết
Và Em nhận hết
Chẳng ngày vui trong chiếc xe hoa
Mỗi ngày vui khi nước mắt nhòa
Bao tháng buồn trong nụ cười tươi
Tình vẫn thắm lời ca vời vợi
Ôm tình Anh Em nhặt cánh sao rơi
Còn lấp lánh dưới
trời trăng rọi
Và Anh đứng ôm bờ vai em thổn thức nghẹn lời
Mối tình đầu khi chiều lặng chìm sâu
Bởi tình Em như tim
mình đã bảo
Bởi lời Anh trên
trang viết đầu tiên
Lúc ban đầu và mãi mãi yêu anh .
Tình em đó cho chiều Thu vàng mãi
Chẳng cạn ngày tàn xuân bước giữa đông sang ./
Viết ở Nam Định
***********
*****************Aprril 2103**********
Tình yêu như sao
bắc đẩu em ơi !
Quê hương đất nước và chiều bên Em ,
Ngày xa gió núi điệp trùng
Chờ anh không đặng khôn cùng chờ mong
Hành quân gối một bóng hồng
Cheo veo đầu súng môi hồng canh khuya
Tình ai thắm tình ai kia
Ngày về xa lắc thuyền kia bến nào !
Trập trùng đỉnh núi non cao
Tình em lấp lánh bay vào trang thơ
Cho dù người có thờ ơ
Tình yêu nước chảy bến bờ nào đâu
Biển sông chỗ cạn nơi sâu
Tình không nông cạn một màu tím nhung ./.
***************
Quê hương đất nước và chiều bên Em ,
Ngày xa gió núi điệp trùng
Chờ anh không đặng khôn cùng chờ mong
Hành quân gối một bóng hồng
Cheo veo đầu súng môi hồng canh khuya
Tình ai thắm tình ai kia
Ngày về xa lắc thuyền kia bến nào !
Trập trùng đỉnh núi non cao
Tình em lấp lánh bay vào trang thơ
Cho dù người có thờ ơ
Tình yêu nước chảy bến bờ nào đâu
Biển sông chỗ cạn nơi sâu
Tình không nông cạn một màu tím nhung ./.
***************
Hoàng
hôn cao nguyên
Cũng biêt rằng yêu đắm đuối nhiều
Mối tình tha thiết biết bao nhiêu
Cao nguyên rừng núi trời xanh thẳm
Lạnh giá đêm đông một thoáng chiều
Em bảo những đêm buồn tha thiết
Ôm bao mộng đẹp trong tình anh
Đắm đuối bên anh mùa thu lạnh
Lá vàng xanh lại mãi màu xanh
Em buông chiều xuống trong mộng ấy
Có phải không anh mỗi lá cành
Rung rinh thoang thoảng hoa ngan ngát
Thấp thoáng hình anh in giữa mành
Nhưng rồi em sợ mùa đông lắm
Tình cũng tan tành vỡ mộng thôi
Tình anh có thắm xa vời vợi
Giọt lạnh ,sương rơi một góc trời ./.
******N. Đ City
April 22, 2013********
NĂM THÁNG KHÔNG Q1UÊN
NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN .
NƠI BIỂN XA
Tản văn từ một Bài thơ Live On Line Netlog
Rừng vàng biển bạc
Em ơi !
Màu xanh áo lính mây trời xa xăm
Mùa Xuân với ánh trăng rằm
Bên cầu cảng vắng đằm dằm tình em
Nghe trong sóng vỗ êm đềm
Trăng ngân tiếng gió qua thềm tóc mây
Sóng xô lòng những dâng đầy
Tình Em vời vợi sao dầy mênh mang ././ .Thơ với RỪNG VÀNG
Màu xanh áo lính mây trời xa xăm
Mùa Xuân với ánh trăng rằm
Bên cầu cảng vắng đằm dằm tình em
Nghe trong sóng vỗ êm đềm
Trăng ngân tiếng gió qua thềm tóc mây
Sóng xô lòng những dâng đầy
Tình Em vời vợi sao dầy mênh mang ././ .Thơ với RỪNG VÀNG
Một cô gái trên Phố cổ Hội An
__ nơi đã từng là điểm Pháo kích của Thực dân Tây Ban Nha khi đi tìm
thuộc địa vào đến Cam Ranh và Đà Nẵng __- em đọc lại bài thơ lần nữa và cái cảm
của lần đọc lại mới thấy bài thơ thật hay ; nhưng đâu có biết cái hồn và cái
tình của bài thơ đã hun đúc từ những năm tháng chiến tranh khốc liệt trong cuộc Cách mạng
giải phóng Dân tộc Việt Nam ta suốt nửa thế kỷ thứ 20 , biết bao máu và nước
mắt chan hòa trên mảnh đất thân yêu,nhỏ bé này trải dài uốn mình dọc theo Biển
Đông hơn 2200 km . Cuộc cách mạng giải phónpDân tộc của chúng
ta không hề thơ mộng nhưng những người lính trẻ của Các quân binh chủng Việt
Nam nửa cuối thế kỷ thứ 20 đã sống , chiến đấu và học tập rất kiên cườngvà cũng
rất lạc quan , thơ mộng ; khó khăn gian khổ chồng chất , nối tiếp năm dài ngày
ngắn quanh sự rình rập của đan bom không hủy diệt được tuổi xanh của những
thanh niên Việt Nam sống thanh bạch mà mộng mơ . ____Bài thơ của một Kỹsư quân
sự V.N __ học Viện Kỹ thuật Quân sự
V.N khóa thứ nhất .
Quả thật như điều đã
viết , đọc lại lần nữa và là người trong cuộc ta mới thấy rừng , biển , tình
yêu
Rừng vàng biển bạc Em ơi !
Màu xanh áo lính mây trời xa xăm
Mùa Xuân với ánh trăng rằm
Bên cầu cảng vắng đằm dằm tình em
Nghe trong sóng vỗ êm đềm
Trăng ngân tiếng gió qua thềm tóc mây
Sóng xô lòng những dâng đầy
Tình Em vời vợi sao dầy mênh mang ././ .Thơ với RỪNG VÀNG
Màu xanh áo lính mây trời xa xăm
Mùa Xuân với ánh trăng rằm
Bên cầu cảng vắng đằm dằm tình em
Nghe trong sóng vỗ êm đềm
Trăng ngân tiếng gió qua thềm tóc mây
Sóng xô lòng những dâng đầy
Tình Em vời vợi sao dầy mênh mang ././ .Thơ với RỪNG VÀNG
Một cô gái trên Phố cổ Hội An __ nơi đã từng là điểm Pháo kích của Thực dân Tây Ban Nha khi đi tìm thuộc địa vào đến Cam Ranh và Đà Nẵng __- em đọc lại bài thơ lần nữa và cái cảm của lần đọc lại mới thấy bài thơ thật hay ; nhưng đâu có biết cái hồn và cái tình của bài thơ đã hun đúc từ những năm tháng chiến tranh khốc liệt trong cuộc Cách mạng giải phóng Dân tộc Việt Nam ta suốt nửa thế kỷ thứ 20 , biết bao máu và nước mắt chan hòa trên mảnh đất thân yêu,nhỏ bé này trải dài uốn mình dọc theo BiểnĐông hơn 2200 km . Cuộc cách mạng giải phónpDân tộc của chúng ta không hề thơ mộng nhưng những người lính trẻ của Các quân binh chủng Việt Nam nửa cuối thế kỷ thứ 20 đã sống , chiến đấu và học tập rất kiên cườngvà cũng rất lạc quan , thơ mộng ; khó khăn gian khổ chồng chất , nối tiếp năm dài ngày ngắn quanh sự rình rập của đan bom không hủy diệt được tuổi xanh của những thanh niên Việt Nam sống thanh bạch mà mộng mơ . ____Bài thơ của một Kỹsư quân sự V.N __ học Viện Kỹ thuật Quân sựV.N khóa thứ nhất .
, tuổi trẻ của trí thức quân đội Nhân dân Việt Nam trong khóa đầu tiên của
quân đội ta nếm trải gian khổ trên sông dưới núi rấttrí tuệ , giỏi giang __chiến sỹ ưu tú của
quân đội nhân dân của toàn quân được chọn về chính thức thành lập và là nền
móng của học viện hôm nay . Họ từ núi rừng , biển cả , trong hải,lục,không quân
buông sung xẻng bộ binh , rời mâm pháo , xa biển cả,hội tụ về bãi Phúc Xá ven
Sông Hồng để vào một mặt trận mới , không tiếng sung nhưng trên mặt trận này ,
có một anh sỹ quan trải qua kháng chiến 9 năm đã phải thú nhận rằng Trong chiến
đấu ,trong gian khổ tôi chưa hề đầu hàng , nhưng nay trên sách vở , trên ghế
trường Đại học tôi đầu hàng . Bởi vì , dù trong chiến tranh khốc liệt , trở thành
một kỹ sư quân sự trong một nước nhỏ yếu và vũ khí còn quá thô sơ so với ngay
cả thời kỳ Thế chiến thứ 2 , vẫn phải đạt đến ngang tầm Quốc Tề hiện đại , cho
nên thử thách trí tuệ , lòng nhẫn nại chinh phục khoa học kỹ thuật không phải
chỉ có long quả cảm mà thôi .
Những người chiến sỹ
trẻ được chọnlọc đưa về Trường từ rừng vàng , biển bạc đang và vẫn mênh mang
vời vợi với tình yêu “thời con gái “ như nhữnglớp sóng xô , gió lùa trên từng
trang Toán Lý màta lúc bấy giờ trong quân đội bắt đầu bằng con số 1 .
Bài thơ được víết bởi
một kỹ sư quân sự về trường từ Hải Quân Việt Nam nên mang sắc thái của biển cả
trên chiến hạm nhỏ bé năm xưa .
Không biết những dòng trên có mang lại
được gì , nhưng trong tôi đang đầy ắp và tràn ngập nỗi nhớ về những tháng năm
trên ghế Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự Việt Nam , bóng dáng , khuôn mặt đồng
đội và tính cách tài năng , năng lực của Họ vẫn hiện rõ trong trí óc khi đọc
những dòng tên trong danh sách khóa 1 C
213 Đại Học Kỹ thuật Quân sự Việt Nam cũng như bóng dáng Giảng viên Đ.H Bách
khoa H.N sang , đến những Giảng viên trẻ Từ nước ngoài về , cùng với tình Thầy trò đằm thắm đồng cam
cộng khổ những khi khó khăn về vật chất cũng như khó khăn trong học tập , một
tình đằm thắm Đồng đội chiến sỹ trên một chiến hào mai phục . Và , chính trong
những canh thâu đèn dầu mũ rơm phòng đạn bay tới đã chứng minh đức tinh kiên
cường của những người Cộng Sản chân chính dìu dắt chính trị cho những thanh
niên chúng tôi còn đang vời vợi mênh mang”tình em “ xa thăm thẳm .
Tất cả , chiến
tranh , trách nhiệm , nghĩa vụ và lòngsay mê học đã đưa đến cho chúng tôi ,cùng với sự chăm
sóc của Bộ Quốc phòng bấy giờ đã tạo nên cho chúng tôi một lòng trung thành với
Tổ quốc , với nhân dân và cũng đã được nhân dân yêu mến và tin cậy .
Khóa1 của học viện hôm
nay cất đầy giai thoại của lớp chiến sỹ từ 3 quân chủng về trường khác hẳn
những giai thoại trong mọi trường Đại học và ngay cả trong Học viện hôm nay ___
Những giai thoại lãng mạn trẻ trung trong khói lửa chiến tranh trong Trường Đại
học K.T quân sự tạo thành ký ức không quên của tình đồng đội đồng chí trên mặt
trận khoa học kỹ thuật đầy gian lao trong một thời chinh chiến giải phóng dân
tộc .
Và , làm sao có thể
không tự hào khi bạn bè , đồng đội tôi hôm nay , giáo viên của tôi hôm nay là
những tiến sỹ ,tiến sỹ khoa học – tướng lĩnh , sỹ quan trung cao cấp trong quân
đội . chúng tôi đã đi hết và trọn vẹn cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và
xứng đáng người Cộng sản chân chính trong hòa bình tững bước đưa đất nước đến
một khả năng quân sự vệ quốc vững bền .
Hơn thế nữa , chắc chắn
tôi và những đồng đội tôi năm xưa khẳng định rằng : Vũ khí , kỹ thuật quân sự
hiện đại thời nay , trong tay quân đội Nhân dân Việt Nam cũng sẽ không kẻ xâm
lăng và thế lực nào chiến thắng nổi , và rõ ràng Đại Học Kỹ thuật quân sự Việt
Nam có một tầm quốc tế không kém các kỹ sư quân sự toàn cầu ___ Niềm tự hào của
nhân dân việt nam đã từng nuôi nấng , tin tưởng và bảo vệ lớp sỹ quan kỹ thuật
đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam chính là sức sốngcủa tôi và đồng đội tôi hôm nay .
Chắc các bạn
chưa mấy tin những dòng đã viết trên,và chắc chắn tôi và đồng đội sẽ có các bài
viết tiếp theo , như thế qúakhứ hào hùng của Quân đội Nhân dân việt Nam
không thể nào chối cãi ./.
Đại tá Nguyễn
VănChương và các Sỹ quan Trung cấp – Kỹ sư Quân Sự v.N
Ảnh chụp tại Nam
Định 2012 November ( Chương . Đích , Long
.Trù )
Hành
trình xuyên Việt
Và cuộc Tình lỡ dở .
“Ví không có cảnh đông tàn
Thì dâu có cảnh huy hoàng ngày xuân “
Dù thế nào , cũng cũng
không thể phủ nhận sự phát triển và tiến lên của Việt Nam chúng ta ngày hôm nay
, tôi đi một vòng từ Nam định – Hà nội –Sài gòn – Hải phòng –Hà nội ---Nam Định
,những chuyến bay , những chặng đường xe con không là ngắn , chỉ khi ngồi lại
mà ngẫm nghĩ mới thấy chặng đường và thời gian của hôm nay và hơn 45 nămqua như
một huyền thoại bởi vì khó có thể tin khi mà ai đó chỉ biết hôm nay mà không
cần biết những ngày đã qua .
Trên các đô thị bóng
dáng chiếc xe đạp của những năm cuối thập kỷ trước ngày càng thưa thơt cho đến
gần thành con số 0 trên đô thành , những cuộc đau xe đạp xuyên việt với những
chặng đường trên dưới trăm Km , với áo vàng áo xanh từng chặng , làm tôi
nhớ lại thời chiến trong Trường Đại học
Kỹ thuật quân sự V. N của tôi và đồng đội với sức trẻ rong ruổi trên nửa phần
tổ quốc với chiếc Ba lô gói vuông vài bộ quần áo cùng một đống sách vở khoa học
kỹ thuật như một vũ khí trên mặt trận không tiếng sung và cáchxa , xa lắm chiến
địa bom đạn từng ngày .
Từ ven bờ Hạ long tôi
về bãi phúc xá khi có lệnh “đi học “ , chỉ sau 4 giờ đi xe vận tải và tàu tuần
la hải quân bấy giờ chúng tôi đã về hải phòng cũng đã là một điều đáng nhớ của
dăm bảy anhem chúng tôi từ Quảng Ninh đi học , nhưng những cuộc hành quân đó
còn “mang tính quân sự “ cũng như những cuộc hành quân chuyển trường lớp liên
tiếp sau học kỳ , sau năm học mà chúng tôi xem như lẽ thường , không nhiều ấn tượng như lần hành quân chuyển
trường lên Bác Mục –Hàm Yên—Tuyên Quang và về Vĩnh Yên .
Khi chúng tôi học xong
năm thứ nhất dưới đồng bằng , sơ tán trong vùng dân xa hà nội , đại đội 213 ở
Thục Cầu Hưng yên , khi đó , chúng tôi được biết : Điểm cao quan sát trên đất
bạn Lào đã bị đánh chiếm , chưa giành lại được , khả năng quan sát và dẫn đường
bom xuống biền bắc V.N có thể sẽ được mở rộngvà như thế đồng bằng bắc bộ an
toàn cho chúng tôi có thể không có ; chúng tôi được lệnh chuyển trường lên vùng
cao , vùng chiến khu năm xưa .
Khi rời khỏi Thục Cầu
–Hưng Yên , chúng tôi chuyển lên Bắc Mục –Hàm Yên Tuyên Quang . Từ Thị xã Tuyên
Quang , chúng tôi hành quân đêm đến tảng sáng thìđến khu đồi một bản người Tày
và đóng quân lúc đầu ở gầm nhà sàn để dựng toàn bộ nhà ngủ , hội trường ,nhà ăn
,nhà bếp bằng tre nứa trong vài tháng
trước khi vào năm học tiếp theo , chính trong thời gian này đã làm cho nhiều
ânh em chúng tôi thành những công nhân lâm nghiệp khaithácluồng nứavới những
công việc khai thác , đóng bè và vận chuyển trên khe , suối về đồi thung lũng
và đồi hoang đang khẩn trương dựng nhà tre nứa . Và có lẽ cũng là sau này đồng
đội Tôi điB ngắn B dài thì những con vắt rừng Trường Sơn cũng rắc rối như con muỗi đồng bằng mà thôi .
Trên từng quả đồi Đất
Hàm Yên đã mọc lên những gian nhà tre nứa lớn bé ẩn dưới những lùm cây cao ,
hội trường lớp học , nhà ở , nhà ăn đầy đủ , khu đồi vắng lặng trở thành một
căn cứ tre nứa sáng đèn dầu hỏa trong nhưng khi màn đêm buông xuống cho tới
canh khuya trước khi đồi núi chìm vào không gian tĩnh lặng của Biên cương .
Nhưng rồi , chuẩn bị vào khai giảng năm học mới thì chúng tôi được lệnh tháo rỡ
toàn bộ nhà ăn , nhà bếp , hội trường lớp học
và đóng bè . Về xuôi . Khi phố nhỏ huyện Hàm Yên vừa thấp thoáng màu áo
anh quân hàm học viên thì đẫ lại vắngvì
ngày đêm rỡ nhà , đóng gói của chúng tôi cho một chuyến xuôi dòng song hồng về
Bến Châu Phan ( Vĩnh Yên ) . Và những cột kèo luồng tre xuôi theo dòng suối nơi
cuối nguồn đến bờ Sông Lô về xuôi . Đólà những vất vả , gian khổ không kém gì
khi mới lên , lại một lần nữa đôi vai trần người học viên Kỹ sư quân sự cùng
những cột luồng tre nứa đang còn màu xanh diệp lục thêm gắn bó .
Lòng vui mừng và phấn
khởi vì lại được về Xuôi gần Thủ Đô làm
chúng tôi trở nên hăng hái và những tay chống bè luồn lách khesuối cũng như
khéo léo hơn , vả chăng cũng còn vì gần hơn nhữngngười thân yêu của mình dưới
xuôi
Chúng tôi về xuôi và
được biết khi đó chúng ta đã chiếm lại được Điểm Cao quan sát bên Nước Bạn Lào
.
Chúng tôi được lệnh về
dựng cơ sở ở Văn Tiến –Hương Canh Vĩnh Yên .Banchỉ huy đại đội biết tôi có
người yêu ở Nam Đinh nên bố trí tôi đi Tiền trạm cùng với haingười nữa là Anh Lương Văn Cao về
tranh thủ thăm gia đình ở Đông Anh , và Phạm Văn Síu cũng về Hà Nội thăm người
yêu và nhất là Mẹ , bấy giờ sống ở
HàNộimột mình vì Bố Síu là Liệt Sỹ . , Síu
từ Cáp Nhĩ Tân Trung Quốc về học tiếp
khi ta rút về nước lưu học sinh trong cái gọi là “Cách mạng Văn hóa “ của họ .
.
Có thể nói , lúc bấy
giờ , vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước thì những cuộc hành quân , những
chuyến đi như thế còn khó khăn và vất vả hơn nhiều so với những hành trình
xuyên Việt hiện nay không những : Đường quá dài so cới phương tiện giao thông ,
đường xa , địa hình thay đổi và còn có cả lo ẩn tránh bom đạn phá hoại giao
thông , tìm diệt quân đội mà bọn Mỹ gọi là Việt Cộng ngay trên Miền Bắc V.N . chúng
ta
Đi Tiền trạm , chúng
tôi có 3 người . Tôi được Đại đội cho mượn chiếc xe đạp của Tiếp phẩm , Xe dùngđi
chợ tiếp phẩm cho nhà bếp hàngngày nên cũ và không nhẹ nhàng gì , đường đồi núi
, có đoạn không dốc cũng chỉ đạp được chừng 12-13 km /h , còn đoạn xuống dốc
cũng dè chừng vì phanh yếu , xe cọc cạnh .
Anh Cao có chiếc xe
Thống nhất cũ mang theo ,còn síu thì lên Hàm yên mang theo chiếc DIAMAN của Đức
. Xe đạp của chúng tôi đều là những xe cũ đã từng đi nhiều cây số , mà xăm lốp
cũng đã phải vá víu , không có điều kiện để thay mới .
Cuộc hành quân bằng Xe
đạp của chúng tôi về xuôi bấy giò nếu nhưđược chuẩn bị kỹ càng cho đi đường dài
, đồi núi thì cũng chẳng có gì đáng nói . Nhưng , chiếc xe tiếp phẩm tôi đạp cứ
như một con la già , còn xe của Síu , tuy là loại xe đi trên phố Hà Nội bấy giớ
thì vài tháng cũng phải căng lại Vành cho trỏn . Síu lên xe chưa được bao lâu
thì xe lốp xe bị thủng “châm kim “ ở đâu đó , trên đường đi , đường vắng ngắt ,
phụ tùng mang theo chỉ cái bơm xe đạp , và như thế . chừng Vài Km lại phải
xuống xe bơm hơi .
Xe anh Cao cũng không phải xe tốt và cũng chỉ chuẩn bị
đường dài --- qua loa . ,trong khi Anh cao Lớn tuổi hơn chúng tôi , vốn trước
khi về Trường ,Anh Lái xecho TướngVăn Tiến Dũng nên chẳng phải một người đi xe
đạp khỏe .
Tuy nhiên Tôi và Síu đã
từng là Vận động viên thể thao điền kinh và bong đá , nhưng với những chiếc xe
hành quân bất đắc dĩ ấy danhd chấp nhận
.
Đường dài từ miền cao ,
xuồn trung du , “ con ngứa sắt” với chiếc ba lô vuông hành lý người lính và tư
trang là đống sách vở khoa học kỹ thuật ; hoàn cảnh như vậy , chúng tôi đuổi
nhau suốt dọc đường . Síu , xe nhẹ và lốp bị châm kim , vì ths lên xe phải đạp
hết tốc độ mà đi , khi lốp xẹp thì dừng
xe và chở tôi đi giữa ,gặp nhau
hai thgằng cùng bơm xe của Síu và đợi anh Cao đến thì xuất phát một đoạn đường
tiếp thao … Cứ thế , chúng tôi đuổinhauvà đợinhautrên suốt dọc đường về Hà nôi
. Đến Cầu Việt Trì đang làm dở chưa thông được xe lửa đã qua nửa đêm , trời bắt
đầu về sáng , chúng tôi vào chỗ mấy anh trung quốc bấy giờ đang làm cầu xin
nước uống , nhưng họ ngi chúng tôi là gián điệp
khi tôi nói vài câu xin nước , rồi Síu hỏi xin tiếp . Anh ta nghi là
gián điệp lại còn biết cả tiếng Trung Quốc (Bởi Tôi cũng đã học 2 năm tiếng
trung , còn Síu Thì Đã Học dở Đại Học quân sự ở Cáp Nhũ Tân Về ) . Chúng tôi đành bơm xe và lên đườngvề đến Bạch
Hạc chờ tàu đêm về Hà Nội .
Về Hà nội rồi Síu Còn
phải đạp đến nơi sơ tán . còn tôi . không chờ tàu Nam
Định , tiếp tục xuôi theo quốc lộ1 rồi rẽ sang đường 21 về thành phốnamđịnh và
xuôi theo phìa Đền Trần Nam
Định Về nơi mẹ và Em gái tôi đang sơ tán , Cách Nam Định chừn 6-7 km .
Tốp hành quân đi
tiền trạm của C213 khi về xuôi từ Hàm yên , như đã nói có chuyện riêng tư kèm
theo đều là chuyện tình cảm gia đình Và tình yêu trong chiến tranh của những
người lính . Chắc chắn gia đình anh Cao phải vui mưng thế nào khi chiếc xe lấp
bụi đườn dựng trước sân nhà. Còn Síu , tôi không hiểu thế nào , bởi vì chúng
tôi khi đó đang ở các tiểu đội khácnhau , còn chưa chia ngành học , Tôi trung
đội phó kiêm chức và Tiểu đội 18 .
Về đễn nơi sơ tán ở
Nam Đinh , tôi không viết thư trước vì đi tiền trạm kết hợp cho về nhà là đột
xuất , nên khi tôi về nhà nơi sơ tán , vừa
ra khỏi ngõ để định đi sửa quần áo lính
cho đẹp vì năm ấy bộ quân phục lính Triều tiên lung thùng , tì vừa gặp
cô người yêu đạp xe từ nơi mẹ và em tôi
sơ tán .
Một thời bom đạn ,
tôi chỉ gặp người yêu khi em còn chưa đi làm và khi gặp lần đầu tiên sau mấy
năm xa cách , như người ta nói , tôi ngượng không có chỗ chui xuống đất . Em
hỏi tôi chỉ trả lời nhát gừng , và nói
“ Tổi chỉ ở nhà được 1
ngày mai , rồi phải đạp xe đi sớm , không thể lui lại 1 ngày “
Em bảo
“ chiều nay em phải về
nơi soq tán để sang ngày mai họp Đại hội Đoàn Toàn thành phố , không thể về
được “.
Chúng tôi tạm biệt
và theo kế hoạch phải có mặt ở địa điểm
mới và nhận chỗ ở cho Trung đội đến sau ; Tôi không thể chậm trễ và đường dài
còn chừng 150 km trên chiếc xe đạp “la giá “ .
Chiến tranh , nhiệm vụ , tôi bùi ngùi nguyên hành trang từ Hàm Yên lại
ngược miền trung du , và sau đại hội đoàn bế mạc ,Em chỉ còn biết .. khóc . Và khi đó chúng tôi đang với bè từ bến Châu Phan , chuển về văn
Tiến dướn trời hè oi bức miền trung du mà người dân thấu chúng tôi lam lũ , vất
vả , như những lính B quay , và không hiểu vì sao lính mà toàn là sách vở . vì
vậy , khi đã hiểu , dân ở đây thương và tin tưởng chúng tôi , tạo nên một tình
quân dân khó quên trong những ngày trọ học trong nhân dân .
***************** Viết ở Nam
Định
Đại tá và Sỹ Quan
Trung cấp Quân ĐộiN D VN – Khóa1 C213Đại
học K T Q S V V
Tiến sỹ Nguyễn Nước ,
Kỹ sư Quân sự Nguyễn Tuấn , Đỗ Đăng Đích
Ảnh
chụp tại nhà N Nươc Sài Gòn 2012 november
QUÊN ANH
Em bảo
Không bao giờ ,
Không bao giờ gặp
lại nữa anh !
Sau một lời xin lỗi
tình yêu .
Tình thơ mộng trong một thời con gái phiêu diêu
Em đã chôn vùi như một
thời dĩ vãng xa thăm thẳm
Mà dưới gối vẫn còn nguyên dòng chữ
của
tình anh nơi xa và thắm thiết
Em không !
Không một mẩu tin nhắn từ nay
.
Em về,
Trong căn nhà lộng lẫy
Trăng dãi thềm và chim hót sáng tinh mơ ,
Em quên !
Nghe trong tiếng hót đầy thơ
Những bức thư tình vương đầy lối nhỏ đường đi
Những âm thầm phương xa vọng đến
Đường Em đi ,
Lối cũ
, Đường về
Em quên ! Và Hoàng hôn rộn rã
Những con đường ngõ nhỏ em qua
Quên cho đến tàn đời
Quên cho màu xanh tươi bất diệt
Mà chợt buồn
Khi thánh thót mưa rơi
Khi se lạnh mưa mùa xuân bay phơi phới ,
Và mhư thế mưa tràn mi mắt nhỏ
Nghe từng giọt , giọt dài trên bờ vai chờ đợi .
Chẳng bao giờ Em còn gọi
Anh ơi ! ./.
Viêt ở Nam Định
**********************
*******************April 2013************
TRÁI TIM MÁCH BẢO
Mối
tình của em
Tình
bay vút như lão gia khờ khạo.
Mối
tình đầu say đắm
Mãi
là của Anh đằm đằm
Mối
tình đầu bởi mãi yêu anh
Mối
tình mà rồi bà lão khát khao
Khi
mỗi lúc lòng tự hào kiêu hãnh
Một
thiên thần mộng mỵ xa xăm
Nếu
trong Em mùa Thu vàng rơi rụng
Lá
vàng rơi dưới trăng rằm xơ xác
Ánh
trăng vương nơi cầu vai chiến thắng
Cánh sao rơi , tiến sỹ cũng nửa vời
Đời cho hết
Và
Em nhận hết
Chẳng
ngày vui trong chiếc xe hoa
Mỗi
ngày vui khi nước mắt nhòa
Bao
tháng buồn trong nụ cười tươi
Tình
vẫn thắm lời ca vời vợi
Ôm
tình Anh Em nhặt cánh sao rơi
Còn
lấp lánh dưới trời trăng rọi
Và
Anh đứng ôm bờ vai em thổn thức nghẹn lời
Mối
tình đầu khi chiều lặng chìm sâu
Bởi
tình Em như tim mình đã bảo
Bởi lời Anh trên trang viết đầu tiên
Lúc
ban đầu và mãi mãi yêu anh .
Tình
em đó cho chiều Thu vàng mãi
Chẳng
cạn ngày tàn xuân bước giữa đông sang ./
Viết ở Nam Định
***********
*****************Aprril
2103**********
Những năm cuối thập kỉ sáu mươi thế kỉ
trước, mỗi khi có trận đấu của đội bóng đá Sao đỏ trên sân trường hay sân Vĩnh
yên đều chật kín khán giả. Mọi con mắt đều đổ dồn về “bộ ba tam giác quỷ”:
Khoa-số 6, Nam
số 8 và Tùng Sơn số 10. Mỗi khi bóng đến chân Số 10 Tùng Sơn là lưới của đội
bạn lại chuẩn bị rung lên…Nói như vậy để độc giả phân biệt Tùng Sơn, Thanh Sơn,
Công Sơn cả ba đều học ở lớp ô tô xe xích đại đội 213 khóa một Trường ĐHKTQS.
Tháng
9/1971 khóa một ra trường, hơn 150 con người tỏa ra mọi nẻo đường của Tổ quốc
để làm nhiệm vụ của người kĩ sư quân sự, một số đã được điều động vào BTL 559
về các binh trạm, một số ở lại trường làm nhiệm vụ giảng dạy, còn lại được phân
công về các cơ quan đơn vị trong toàn quân.
Xin
được góp vài mẩu chuyện từ những năm tháng công tác nhằm góp thêm tư liệu cho
lớp 213 của chúng ta.
***
( Đấy là những năm cuối trên đất Vĩnh Yên trước khi
hội đồng quốc gia mở ra cho kỳ bảo vệ
luận án tốt nghiệp của C213 )
Những dòng
viết thêmcủa Đỗ Đăng Đích .
Những năm cuối của Khóa học . Thủ môn nổitiếng Đội
tuyển Bóng đá V.N __ Thủ môn Đức __ đã về trường với quân hàm Thiếu úy và làm
công tác thể thao thể dục của Nhà trường trên Hiệu bộ bấy giờ .
Những nămđang
còn đi thực tế tại các cơ sở Công nghiệp quốc phòng toàn quân , chiếc xe 3 bánh
đã đưa đón chúng tôi rải rác về sân trường để đá giải Nhà trường , và chúng tôi
là tiền thân đội chân giầy của Đại học Kỹ Thuật Quân Sự khi đó .
Thực ra sức
mạnh của đội ở hang tấn công là bộ 3 đã kể , còn hang phòng vệ chắc trái __ Đỗ Ngọc Lan , Trung vệ giữa phải
__ Đõ Đăng Đích . chúng tôi đá với đôi hình 4-2-4 . cũng đủ để chũng tôi chinh
chiến trên sân cỏ và thu hút người xem ham mộ chúng tôi .
Những kỷ niệm
như một giai thoại trên sân bóng và có lẽ chỉ Tường này mới có :
Hôm đó
Trường tổ chức đá giải nhà trường trên sân trường cách Vĩnh Yên 1 km Trận đấu giữa C213 và C113 .
Trái bóng lật
cánh thu hút hang hậu vệ sang phải làm Ngọc Lan chạy lên phải đón bóng , nhưng
quả bóng qua đầu hai trung vệ bay đến trước khung tgỗ không có lưới chỉ có vạch
ngang . Trung vệ Đích vội vàng chạy về sứu nguy và bằng cú phá bóng bằng mà
ngoài chân phải đã tung quả bóng ra biên , khi nó đang nẩy từ ngoài vạch giới
hạn cầu môn chưa chạm đất . quả phá bóng bay nửa nâye này , do tọng tài không
theo kịp cú tấn công của C113 thổi còi
cho ghi bàn thắng .
Tùng Sơn từ
trên sân đội bạn chạy về hỏi tôi : Vào chưa ? Tôi gắt lên : vào đâu mà vào
! nhưng trrọng tài vẫn quyết cho một bàn
vào khung gỗ .
Tất cả chúng
tôi : Bỏ về . không đá nữa . Và như vậy giải bóng đá cũng bế mạc không kèn trồn
. Thế đó .
Tôi còn nhớ mãi những quả thành bàn thắng do
Tùng Sơn đá vào , đều từ “góc chết “ với cú sút mà ngoài căng làm bóng bay vào
ngay sát cột của góc ngay đó ___ cũng đã xem nhiều những cú sút thành bàn , kể
cả của danh thủ anh quốc , Tây ban nha , Đức ,Ý ,CCCP , tôi chưa thấy bàn thắng
nào được ghi nhận như của Tùng Sơn Đá vào từ góc chết đó !
Có lễ Bộ quốc phòng bấy giờ /thương chúng tôi lắm , cho nên : Chúng tôi
gặp những bất công và bỏ đi không cần biết việc gì sẽ xảy ra ; kể cả việc phản
ứng giảng viên trong khi thi vấn đáp bị cho điểm 2 / 5 bất công cũng bỏ trường
lớp đi luôn và nhận cảnh cáo của Chi bộ Đảng .
Những dòng
tản mạn trên lại ập về khi chúng tôi nhớ về mọt thời học viên Trường Dại Học Kỹ
Thuật Quân Sự V.N của chúng tôi .
Tôi xin gợi
nghơ chút đỉnh cho đồng đội khác ngành
những những điểm ngoại khóa dễ thương mà nhớ về nhau qua hơn 45 năm xa cách .
*************************
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG B 2VÀ DỌC TRƯỜNG SƠN
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
LÊ TÙNG SƠN
Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường
Khi đến
gặp đồng chí trưởng ban cán bộ BTLPB để nhận quyết định đi B, cho đến bây giờ
tôi cũng không nhớ nổi cảm xúc của mình, bởi lẽ lúc bấy giờ mọi suy nghĩ hành
động của người thanh niên nói chung và người Đảng viên, sĩ quan nói riêng, việc đi B là một vinh dự là một
việc tất nhiên phải làm không có gì phải đắn đo suy nghĩ…
Tôi
được nghỉ phép 15 ngày, về nhà chẵng biết làm gì, nhà tôi ở khu tập thể Công ty
vật liệu khiến thiết Hà nội 17 Hàng Ngang khu Hoàn kiếm, Hà nội các em tôi còn
nhỏ đang di học cấp 1,2 má tôi bận đi bán hàng ở cửa hàng của công ty, ba tôi ở
tận Thanh hóa đang làm giám đốc công ty vận tải lâm sản Tổng cục Lâm nghiệp.
Ngày đi vào đợn vị 675 ở Thanh hóa chỉ có Chúc là vợ của Ngọc Tuấn bạn thân của
tôi đi tiễn ra bến xe Kim liên, lên xe rồi chỉ có vợ bạn là khóc còn mình thì mong sao đến đơn vị sớm.
Đến
trung đoàn 675 ở Triệu sơn Thanh hóa vào buổi tối, đơn vị đóng trong nhà dân
bản Mường. Ngày hôm sau tôi nhận bàn giao trạm sửa chữa xe của trung đoàn đã
được tập trung từ trước chỉ chờ tôi vào nhận bàn giao để đi B2. Trạm xe có 14
chiến sĩ gồm thợ xe, thợ nguội, thợ rèn và lái xe, trạm có hai xe Vọt tiến chở
trang bị dụng cụ, máy phát điện 10kw…
Đầu
tháng 12/1971 trạm cơ động ra trường bắn 410-BTLPB đề tham gia thành lập đoàn
2047Ađi B2. Đoàn bao gồm đại đội cối 160 ly do anh Bùi như Lạc làm đại đội
trưởng, trạm sửa chữa pháo do anh Phan thanh Nga làm trạm trưởng, anh Nga cũng
học chuyển tiếp C8 ở trường ĐHKTQS và trạm sửa xe của tôi, toàn đoàn có 12 xe
gồm 7 xe Hoàng Hà chở cối cùng đạn cối 160 ly, 3xe Vọt tiến của trạm pháo và 2
xe của trạm xe. Chúng tôi ở tại 410 hơn 10 ngày để củng cố tổ chức, làm dàn
ngụy trang cho xe, bảo dưỡng xe lần cuối. Mỗi xe đều được che chắn buồng lái ở
trên nóc và hai bên cánh của bằng phên tre, nứa. Chúng tôi phải gửi lại tất cả
giấy tờ tùy thân để biến thành chiến sĩ quân giải phóng miền nam…
Ngày
16/12/1971 chúng tôi hành quân về phía nam, lúc này Mỹ đã tạm ngừng ném bom từ
vĩ tuyến 38 trở ra nên chúng tôi được hành quân trên quốc lộ một. Hành quân
trên đường, với lá cờ nửa đỏ nửa xanh cắm ở đầu xe, thỉnh thoảng gặp một đoàn
tàu chở bộ đội đi cùng hướng, hai bên reo hò vẫy tay cùng hát vang những bài ca
giải phóng. Có lúc gặp những bà mẹ, cô gái đang cấy lúa bên đường họ ngửng đầu
lên giơ tay vẫy vẫy và kéo vạt áo lau những giọt nước mắt…tôi chợt nghĩ cũng
may mà mình chưa có vợ chưa có người yêu…
Đến Cự
nẫm Quảng bình chúng tôi dừng lại củng cố đội hình, kiểm tra xe máy, tôi cùng
anh Minh trưởng đoàn đi vào Bộ tư lệnh 559 để xin lệnh hành quân, gặp bác Đồng
sĩ Nguyên Tư lệnh 559 động viên và trực tiếp kí lệnh hành quân tôi cũng thấy
phấn chấn trong lòng và chỉ mong chóng tới mặt trận. Đoàn chúng tôi tiếp tục
hành quân với đội hình đại đội cối 160 ly với 7 xe Hoàng Hà đi đầu, anh Minh đoàn trưởng đi cùng, Trạm pháo đi
giữa gồm 3 xe Vọt tiến và tôi đi cuối
cùng với 2 xe Vọt tiến, tôi đảm nhiệm tham mưu trưởng hành quân có nhiệm
vụ giải quyết mọi sự cố hỏng hóc dọc đường.
Đường
hành quân trên Trường sơn sách báo tài liệu nói nhiều rồi, tôi đã trải qua và
nếm đủ. Từ leo đèo lội suối với những hàng tiêu dẫn đường bằng vải trắng, từ
những đoạn đường được lót bằng những cây cừ cho tới vượt qua những trảng
trống..,Từ những đêm đi bằng đèn ống bơ dưới ánh sáng của pháo sáng và tiếng ầm
ì của máy bay C130, cùng những loạt cối 40 ly trên máy bay bắn xuống mà anh em
trường sơn gọi là ‘xin thùng” đến những lúc vượt qua trảng trống với tiếng gầm
của máy bayL19 đuổi theo và cả những tiềng ầm ầm của bom tọa độ do máy bay F105
ném xuống…Có đêm chỉ đi được 3km, sáng ra nhìn hố nước mà mình đã uống đêm qua
thì thật kinh hãi bởi phân thú rừng đã ỉa từ lúc nào…
Đến
binh trạm 32 đoàn chúng tôi bị ném bom, cháy mất 2xe CA30 của đại đội cối, nhìn
xe cháy, đạn nổ mà chẳng làm gì được. Đến khu vực trú quân lại bị một trận bom nữa, tốp đi đầu vừa đến
trạm chưa kịp đưa xe vào mang cá thì bị bom, anh em chạy sơ tán vào rừng, anh
Minh trưởng đoàn bị thương nặng và hai ba chiến sĩ nữa cũng bị thương, lửa cháy
ngùn ngụt tiếng rít cua máy bay còn trên đầu, tôi và hai chiến sĩ của trạm xe
(Tín và Thạnh) chạy lên đập cửa kính đấu tắt khóa điện lái mấy chiếc xe ở ngoài
bãi trống vào mang cá tránh lửa bén tới. Trời sáng hẳn mọi người mới trở về xe
để tiếp tục hành quân, anh Minh và các chiến sĩ bị thương phải vào trạm cứu
thương của binh trạm để trở ra Bắc. Cũng từ hôm đó một vài chiến sĩ đã nao núng
tinh thần có ý đào ngũ, và đúng như vậy có hai chiến sĩ đã trốn khỏi đội hình
đơn vị.
Cuối năm 1971 đầu năm 1972 đường Trường
sơn nhộn nhịp hẳn lên bởi ngoài tuyến vận tải nội bộ của Đoàn 559 còn có các
đoàn hành quân đi thẳng vào chiến trường B2,B3 tiêu biểu là đoàn 571 của Cục
Hậu cần Miền(B2), trong đó có đoàn 2047A của tôi. Theo quy định của Tư lệnh 559
xe cuả 559 phải nhường đường cho các
đoàn đi thẳng.
Đến binh trạm 38 một điều bất ngờ ập tới
với tôi: gặp Công Sơn. Lê công Sơn người Nghệ an, cùng tiểu đội học viên, học
giỏi, tính trầm ít nói, ít tham gia hoạt động ngoại khóa văn nghệ thể dục thể
thao, Sơn được điều đi B vào đoàn 559 trước tôi hơn một tháng. Ai ngờ hôm nay
gặp nhau ở chiến trường mừng khôn tả. Gặp nhau ôm nhau mừng rỡ rồi hai thằng
chui xuống gầm xe nằm nói chuyện thâu đêm tới sáng. Cho đến bây giờ tôi không
thể nào quên những giờ phút gặp bạn đó, đêm không trăng nhưng đầy sao, yên tĩnh
không bị lũ C130 quấy rầy, có lẽ chúng biết hai thằng bạn học của trường ĐHKTQS
gặp nhau nên không dám đến khu vực này đánh phá. Thôi thì đủ chuyện trên trời dưới biển chúng tôi kể cho
nhau nghe, Sơn có người nữ bạn học từ thời phổ thông yêu hay chưa thì không
biết, nhưng hắn nói Trâm(tên người bạn Sơn) đã thầm yêu cậu ta. Xin được trích
một đoạn nhật ký của Sơn về cuộc gặp đó (đã được Hà em gái Sơn cho
phép trích): “Chiều hôm qua, giữa Trường Sơn đất
lửa, tôi đã gặp lại Tùng Sơn, người bạn thân yêu của tôi. Đang nằm trong căn
nhà dã chiến lợp ni lông, tình cờ đứng dậy đi ra ngoài, Tùng Sơn gọi sửng sốt
"Sơn!". Thế là tôi nhảy ào tới siết chặt bạn trong niềm vui
sướng.Chiều tối lại chỗ Tùng Sơn chơi cách 2 km. Tối đến trải bạt xuống đất,
mắc màn và ôm nhau tâm sự đến hơn 1h sáng mới ngủ thiếp đi trong niềm vui gặp
bạn.
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miềnNam .
đều khoẻ. Em Hà được vào học sư phạm 10+3. Tình hình gia đình như vậy là rất tốt, chỉ còn mình lo công tác cho tốt nữa thôi.”Bạn đang còn đi xa hơn tôi nhiều vì tôi mới chỉ đi đến vĩ tuyến Quảng Đà, còn
Tùng Sơn đi vào B2. Thế là 3 thằng Sơn đều vào chiến trường cả.Nằm tâm sự, Tùng
Sơn đã kể về gia đình mình, vui nhất là điều mong muốn của mình được thực hiện:
ba mẹ và các em
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miền
Vậy là 3 Sơn của B5 đã vào chiến
trường: Thanh Sơn và Công Sơn vào 559 còn tôi vào B2 Đông Nam bộ. Sơn
nhất quyết sau khi chấm dứt chiến tranh sẽ đi học tiếp, lấy cho được bằng phó
tiến sĩ. Đúng như Sơn nói sau này khi đã về làm phó phòng quản lý sử dụng Cục ô
tô máy kéo, anh ta vài lần đi thi nghiên cứu sinh nhưng rất không may đều
trượt. Trượt về mơ ước học vấn phải chăng làm cho cuộc đời Sơn gặp không may về
nhiều chuyện khác về gia đình riêng, rồi kết cục mà năm 2006 khi tôi nằm cùng
viện 175 với Sơn thì Sơn trút hơi thở cuối cùng vì bạo bệnh. Lúc mất Sơn là Đại
tá chủ nhiệm kho J250 Cục oto máy kéo-TCKT.
Cuối
năm 1972 lúc đó tôi vẫn là trạm trưởng sửa xe thuộc Đoàn Pháo Biên hòa chiến
trường miền đông Nam
bộ. Gặp anh Trần Ba lớp chuyên tu 221 trong một hoàn cảnh đặc biệt: nồi cháo
ong thấm bom tọa độ. Hồi
ấy sau một đêm hành quân chuyển cứ về “đồi Tám cách mạng”(một địa danh bên đất
CPC tỉnh Krache), gần sáng thì tới vị trí đóng quân. Tôi ra lệnh cho đơn vị
nhanh chóng triển khai đào hầm trú ẩn, mọi người nhanh chóng dỡ phụ tùng dụng
cụ xuống xe, phủ bạt và phân nhau đi đào hầm. Hầm chỉ huy do tổ thợ rèn của
Nguyễn thế Hệ đào. Dáng người to khỏe, cao lớn, Hệ cuốc từng nhát phầm phập mặc
dù mùa khô bên đất CPC đất rất cứng như sỏi đá. Bỗng đâu những tiếng ù ù ù vang
đến và trời đất như tối sầm lại…cố gắng định thần mọi người thấy một đàn ong
mật vô vàn con đang ào ào xông tới đốt túi bụi…Thế là mạnh ai người ấy chạy,
tôi cùng y tá Hùng mải miết chạy và chạy, đằng sau đàn ong vẫn uốn lượn đuổi
theo, cổ và tay đã được nêm vài mũi chích rồi. Chạy được vài cây số thì may
thay chúng không đuổi theo nữa, định đốt đống lửa để đề phòng thì nghe thấy
tiến vè vè của máy bay trinh sát OV10 trên đầu, thế là đành phải ngồi trong
bóng cây chịu trận. Khát và đói nhưng chăng làm được gì bởi “cứ”(tức là mơi
đóng quân) thì ong đã chiếm mất rồi. Trời tối anh em chúng tôi lục tục trở về
cứ, bấm đèn soi thì thật bất ngờ: tổ ong dài gần 2 mét to bằng cái bàn làm
việc. Hệ và mấy chiến sĩ đốt đuốc xông khói bắt bằng được tổ ong nọ. Một nồi
hai mươi mật và hai nồi con ong bắt được. Đêm ấy chung tôi nấu một nồi cháo ong
ăn bù cho một ngày bận bịu vất vả, chưa kịp vào mâm thì thật bất ngờ: anh Trần
Ba tới. Anh
Trần Ba là học viên chuyên tu lớp 221 ra trường cùng cuối năm 1971, đi chiến
trường theo đường bộ vào miền Đông Nam bộ công tác tại phòng quân giới
miền (phòng 4), nghe tin tôi đã vào chiến trường anh lặn lội xuống thăm. Thời
bấy giờ ở B2 quãng đường tính bằng giờ đi bộ chứ không tính bằng km, từ chỗ anh
tới tôi đi mất 5 giờ. Gặp nhau mừng vui khôn tả, hỏi thăm bạn bè, đồng đội và
ôn lại những ngày còn ở nhà tầng Vĩnh yên…Lúc nồi cháo được bưng ra tôi kể cho
anh nghe về trận tấn công của bầy ong mà
mọi người trải qua giờ mới có thành quả là nồi cháo. Bỗng “ào, ào” chỉ kịp nghe
tiếng xé không khí của máy bay F105 bay qua thì chúng tôi đã nằm gọn trong hầm
và “ầm ầm” hai quả bom “tọa độ” đã nổ cách chúng tôi khoảng vài chục mét. Đêm miền đông lại tĩnh lặng, chúng tôi
lên khỏi hầm để tiếp tục cuộc chén thì ôi thôi nồi cháo đã bay mất rồi, mùi
cháo còn thơm lừng với những vụn cháo vương vãi đâu đó dưới ánh đèn pin. Cũng
may mà còn được một bi đông mật để đãi anh Trân Ba.
Bây giờ
có nhiều cuộc vui với nhiều món sơn hào hải vị, nhiều thức uống cao cấp đắt
tiền, nhưng với người lính chẳng có món nào ngon hơn tình đồng chí đồng đội, đó
là điều mà không có gì có thể mua được và cũng không dễ gì có được nếu không
nếm trải gian khổ nơi chiến trường.
Giữa Năm 1973 bất ngờ tôi lại được gặp tiếp hai
thày trò của lớp xe: Anh Bùi thức Hưng và Đỗ thành Hưng. Anh Bùi thức Hưng là
giáo viên dạy chúng tôi về kết cấu oto Hồi còn ở trường anh em rất thân nhau,
anh học khóa 7 Bách khoa chuyển sang làm giáo viên của trường, tính tình điềm
đạm cởi mở và rất tận tình với học trò. Với những học viên có biệt tài đá bóng
như tôi anh càng ưu ái. Không ngờ được gặp anh tai chiến trường Đông nam bộ
những ngày sôi động sau hiệp định Pari thật vui mừng hết xiết, thật tiếc nghe
đâu anh bị tai nạn xe trong khi đi công tác lên biên giới phía Bắc trong cuộc
chiến 1979. Đỗ thành Hưng quê Hưng yên,
học khóa đầu trường Nguyễn văn Trỗi, được tuyển thẳng vào Đại Học KTQS, học
giỏi, sau khi tốt nghiệp được phong quân hàm Chuẩn úy và được phân công về Bộ
tư lệnh Tăng Thiết giáp. Khi đi B2 là đại đội trưởng sửa chữa trung đoàn tăng
tăng cường cho đoàn M26 Bộ Tư Lệnh miền. Hai thằng gặp nhau ở trạm xăng dầu Lộc
ninh, lúc tôi đang chuẩn bị đi phục vụ chiến dịch Phước long. Cùng tiểu đội nên
tôi còn nhớ nhiều kỉ nhiệm về Hưng. Sau này khi giải phóng miền Nam , Hưng về
Quân khu 9 sau đó về lại QK7 làm trưởng phòng tăng Cục kĩ thuật rồi về hưu sớm
do hoàn cảnh gia đình. Hiện giờ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong cảnh sức khỏe
giảm sút nặng nề: Hưng đã đặt 5 Stel trong mạch vành tim…
Khi về
căn cứ Bà chiêm Tây ninh tôi gặp bạn Trân Phượng. Trân Phượng cùng tiểu đội và
cùng “tổ tam tam”, anh ta có câu nói nổi tiếng: “Tắm nhiều làm gì cho nó nhão
thịt” vì bản chất của anh ta rất lười tắm, hai chân “eechdima” lúc nào cũng gãi
sồn sột hầu như anh nào của B5 cũng đều nhớ cả. Phượng về BTL Pháo binh cùng
tôi, về làm trạm trưởng sửa xe trung đoàn 204, khi đi B2 thì đã làm trợ lý xe
trung đoàn rồi. Gặp nhau hỏi thăm được vài câu rồi chia tay vì trung đoàn 204
đã được điều động về quân đoàn 4(lấy phiên hiệu là 434), sau này khi đi chiến
dịch mùa khô 1984 ở CPC tôi còn gặp Phượng ở mặt trận 479, lúc này Phượng là
CNKT sư 7/QĐ4. Phượng sống ngay thẳng thật thà, khi về hưu “hoàn cảnh” đến mức
phường Linh trung quận Thủ đúc TP HCM phải xây tặng cho một căn nhà tình nghĩa.
Lần cuối cùng gặp nhau là ở bệnh viện 175, tôi đi điều trị mạch vành tim còn
Phượng bị ung thư hạch, năm 2006 Phượng qua đời trước Công Sơn vài tháng.
Gặp
nhau trong chốc lát, mừng vui rồi chia tay ai về đơn vị nấy. Tôi tiếp tục chỉ
huy đơn vị đi sửa chữa xe phục vụ các chiến dịch cho tới khi giải phóng miền
nam 30/4/1975.
Sự đời
thật trớ trêu, khi còn thanh xuân vui vẻ và tếu táo, khi về già gặp nhau trong
bệnh viện vẫn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ba thằng cùng tiểu đội lại góp
phần phong phú thêm cho khoa A1 bệnh viện 175…
Tôi gặp
bạn trong lớp khá nhiều, song bốn bạn gặp ở chiến trường thì đã mất hai rồi.
Vẫn biết sinh có hạn tử bất kì, người ta chỉ chữa được bệnh chứ không chữa được
mệnh, nhưng mỗi khi nhắc đến lớp đến trường thì những kỷ niệm vui buồn đều nhớ
đến người đã khuất dù rằng bản thân tôi cũng mắc nhiều chứng bệnh nan y. Cũng
vì vậy mà dù không biết viết văn tôi vẫn cố ít dòng mong sao cho thế hệ học
viên đi sau biết cha anh chúng đã sống và đối nhân xử thế như thế nào; để
rồivững bước trên đường xây dựng ttỏ quốc quê hương trong thời đại mới hôm nay .
./
Chuyện
thứ hai:
Sửa xe M113 dưới pháo sáng
Sau thắng lợi chiến dịch Lộc ninh, cuối năm 1972 quân
giải phóng mở chiến dịch Bình long nhằm cắt đứt đường 13 mở rộng vùng giải
phóng chờ thời cơ tiến về Sài gòn.
Để phục
vụ chiến dịch, trước đó trạm xe của tôi đã đi sửa hết một vòng các đơn vị trong
Đoàn pháo Biên hòa. Khi học ở trường tôi hay nói vui với các bạn: mình được đào
tạo để “cái gì cũng biết, nhưng chẳng biết cái gì cả”. Ra trường tiếp xúc với
thực tế nếu biết vận dụng “cái gì cũng biết” với tinh thần cầu thị không dấu
dốt, sẵn sàng học hỏi và xắn tay áo lao vào làm với anh em thợ, những người thợ
lành nghề thì sẽ “biết làm” và biết chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Trời
phú cho tôi cái tính hòa đồng và điều quan trọng hơn cả là trong chiến tranh
gian khổ ác liệt cận kề với cái chết thì tình thương yêu đồng đội còn quý hơn
cả cái gọi là trên dưới, sĩ quan và binh lính…Vì vậy trạm của tôi đã luôn hoàn
thành nhiệm vụ trên giao, cũng có chiến sĩ bị thương nặng trong chiến dịch Lộc
ninh(cậu Phương bị bom ở cầu Cần lê trên đường 13), nhưng tinh thần vẫn không
nao núng.
Chiến
dịch Bình long lực lượng pháo chiến dịch chủ yếu là lựu pháo 105,pháo chống
tăng 85 các loại DKZ, cối 160,120…Đặc biệt ta thu được một số pháo 155ly của
địch, không có xe kéo phải dùng xe M113 thu được của địch để kéo pháo. Những
trận đánh đang diễn ra ác liệt thì một xe M113 trên đường ra trận địa bị hỏng.
Không có xe kéo pháo thì quả là một điều khó khắc phục bởi pháo 155 nặng tới
gần 5 tấn.
Tôi
đang ở căn cứ của trạm và mới trải qua một trận sốt rét thừa chết thiếu sống,
nhiệt độ lên tới 41,2 độ, trời nắng chang chang nhưng vẫn trùm chăn ngồi cạnh
đống lửa . Ai đã ở chiến trường đều hiểu sốt rét là thế nào, nóng hầm hập nhưng
vẫn lạnh run người, miệng khô môi nẻ cơm không ăn cháo không màng chỉ thèm dâu
da rừng…muốn đứng dậy phải hai tay hai gậy chống…Có lẽ bài học vỡ lòng và
chuyên sâu của người lính ở chiến trường là sốt rét. Đang nằm trên võng thì
liên lạc của Phòng hậu cần gọi tôi lên Phòng nhận nhiệm vụ gấp. Tôi vơ vội quần
áo tăng võng bỏ vào bồng và gọi Hệ hộ tống tôi trên đường về phòng Hậu cần.
Anh
Khanh trưởng phòng hậu cần Đoàn pháo Biên hòa giao nhiệm vụ cho tôi đi sửa cái
xe M113 ấy. Anh nói: “Tôi báo cáo với Tư lệnh pháo binh, tôi chỉ còn dự trữ một
kĩ sư duy nhất, nay tung ra rồi, Tư lệnh yên tâm, sẽ có xe kéo cho pháo 155ly”.
Tôi chỉ
thị cho Hệ đi sang cánh Bắc gọi Tín là thợ xe chủ lực của trạm về vị trí xe
M113T(Tín học ở trường trung cấp Bộ nông trường, tay nghề rất giỏi) Gần tối
chúng tôi gặp nhau ở trong một khu rừng dầu nơi chiếc xe M113 nằm chình ình một
đống. Hỏi Hẩu lái xe tình trạng xe thế nào, anh ta bảo xe chạy đến đó vướng gốc
cây không chạy được, tắt máy xong lên nổ lại thì không khởi động được. Hỏi
không khởi động được như thế nào thì anh ta trả lời mỗi khi ấn nút nó chỉ kêu
lạch cạch lạch cạch. Tôi bàn với Tín có hai khả năng: bình điện yếu hết điện
hoặc khởi động có vấn đề. Tín dung hai sợi dây dẫn đấu vào hai cực bình điện
quệt thử thì tia lửa rất mạnh. Đoán là nguyên nhân từ khởi động.
Hai anh
em chui vào buồng máy, máy xăng hình chữ V giống động cơ Zin130 của ta. Sờ tìm
khởi đông…Không thấy đâu. Trời tối chỉ có sao không có trăng, trên đầu máy bay
OV10 vè vè, máy bay C130 ầm ì thả pháo sáng, thỉnh thoảng nó quăng vài quả cối
40ly vu vơ…Vai tiếng đồng hồ trôi qua, nếu không sửa xong xe trước trời sáng
thì sẽ ảnh hưởng tới quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy. Máy bay vẫn gầm rú
trên đầu pháo sáng soi rõ hai khuôn mặt đầy dầu mỡ pha chút lo lắng.Tôi chợt
nghĩ sao không chui xuống gầm thử tìm xem, hai anh em chui xuống dưới gầm xe,
mặc cho bùn đất lấm lem quần áo mặt mũi, mỗi người một đầu gầm khảo sát. Bổng
tôi thấy một vành bu long bắt chặt một
cái nắp tròn bằng cái mâm đồng ăn cơm, tôi gọi Tín bò lại và chỉ nó rồi bảo Tín
tháo cái mâm này ra. Điều vui mừng tới bất ngờ bởi cái khởi động bằng con lợn
con nằm chình ình ra đó…Tín nhanh chóng tháo và chùi hai đồng xu khởi động, chỉ
vừa kịp vặn buloong cuối cùng của nắp
chắn tôi đã bảo Hẩu lái xe nổ máy. Tiếng máy nổ rền vang trong tiếng reo vui
của mọi người…
Mối tình của em
Tình bay vút như lão gia khờ khạo.
Mối tình đầu say đắm
Mãi là của Anh đằm đằm
Mối tình đầu bởi mãi yêu anh
Mối tình mà rồi bà lão khát khao
Khi mỗi lúc lòng tự
hào kiêu hãnh
Một thiên thần mộng mỵ xa xăm
Nếu trong Em mùa Thu vàng rơi rụng
Lá vàng rơi dưới trăng rằm xơ xác
Ánh trăng vương nơi
cầu vai chiến thắng
Cánh sao rơi , tiến
sỹ cũng nửa vời
Đời cho hết
Và Em nhận hết
Chẳng ngày vui trong chiếc xe hoa
Mỗi ngày vui khi nước mắt nhòa
Bao tháng buồn trong nụ cười tươi
Tình vẫn thắm lời ca vời vợi
Ôm tình Anh Em nhặt cánh sao rơi
Còn lấp lánh dưới
trời trăng rọi
Và Anh đứng ôm bờ vai em thổn thức nghẹn lời
Mối tình đầu khi chiều lặng chìm sâu
Bởi tình Em như tim
mình đã bảo
Bởi lời Anh trên
trang viết đầu tiên
Lúc ban đầu và mãi mãi yêu anh .
Tình em đó cho chiều Thu vàng mãi
Chẳng cạn ngày tàn xuân bước giữa đông sang ./
Viết ở Nam Định
***********
*****************Aprril 2103**********
TÌNH XA
Tình yêu như sao
bắc đẩu em ơi !
Quê hương đất nước và chiều bên Em ,
Ngày xa gió núi điệp trùng
Chờ anh không đặng khôn cùng chờ mong
Hành quân gối một bóng hồng
Cheo veo đầu súng môi hồng canh khuya
Tình ai thắm tình ai kia
Ngày về xa lắc thuyền kia bến nào !
Trập trùng đỉnh núi non cao
Tình em lấp lánh bay vào trang thơ
Cho dù người có thờ ơ
Tình yêu nước chảy bến bờ nào đâu
Biển sông chỗ cạn nơi sâu
Tình không nông cạn một màu tím nhung ./.
***************
Quê hương đất nước và chiều bên Em ,
Ngày xa gió núi điệp trùng
Chờ anh không đặng khôn cùng chờ mong
Hành quân gối một bóng hồng
Cheo veo đầu súng môi hồng canh khuya
Tình ai thắm tình ai kia
Ngày về xa lắc thuyền kia bến nào !
Trập trùng đỉnh núi non cao
Tình em lấp lánh bay vào trang thơ
Cho dù người có thờ ơ
Tình yêu nước chảy bến bờ nào đâu
Biển sông chỗ cạn nơi sâu
Tình không nông cạn một màu tím nhung ./.
***************
HOÀNG
HÔN CAO NGUYÊN
Hoàng
hôn cao nguyên
Cũng biêt rằng yêu đắm đuối nhiều
Mối tình tha thiết biết bao nhiêu
Cao nguyên rừng núi trời xanh thẳm
Lạnh giá đêm đông một thoáng chiều
Em bảo những đêm buồn tha thiết
Ôm bao mộng đẹp trong tình anh
Đắm đuối bên anh mùa thu lạnh
Lá vàng xanh lại mãi màu xanh
Em buông chiều xuống trong mộng ấy
Có phải không anh mỗi lá cành
Rung rinh thoang thoảng hoa ngan ngát
Thấp thoáng hình anh in giữa mành
Nhưng rồi em sợ mùa đông lắm
Tình cũng tan tành vỡ mộng thôi
Tình anh có thắm xa vời vợi
Giọt lạnh ,sương rơi một góc trời ./.
******N. Đ City
April 22, 2013********
Lời nói đầu và lời tác giả .
Mỗi
người chúng ta sống trên mảnh đất việt nam mà mảnh đất này__ một dòng Hồng Hà
xuyên dọc nửa phần đất nước với một dòng Mê-Kồng đổ ra Biển Đông bằng chín dòng
sông xanh trong mà người xưa đã đưa lại cho tên gọi hôm nay –Cửu Long Giang
. Mỗi người và từng người sống qua một
thời nghèo nàn , cực khổ và oanh liệt qua mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc
Việt Nam , một dân tộc với Văn minh Đồng bằng Sông Hồng ___ Cái nôi của loài
người còn nguyên vẹn rừng nguyên sinh
Cúc Phương với Động Người xưa trên lưng chừng vách núi Cúc Phương ; Đi qua trọn
vẹn cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc V.N và những năm xây dựng tổ
quốc ta trong hòa bình đều là những
thiên tiểu thuyết cuộc đời con người mà
những tác phẩm văn học chỉ thể hiện được
từng nét, từng nét , mà rất khó
có thể có một tác phẩm văn học nào lớn
đủ cho nó .
Bởi vậy
những đoạn hồi ký của người ta tưởng như phi văn học , và của cá nhân ai đó ngỡ
là không mấy giá trị , chỉ là của cá thể ai đó thôi , không , đó là những viên
gạch đã được nung chin từ nắm đất sông Hồng để xây lên thành những tòa biệt thự
văn học , những dãy nhà bảo tàng lịch sử dân tộc qua từng thời kỳ và giai đoạn
lịch sử Việt Nam .
Năm 2012 ,
cuối năm , sau một vòng tròn trên không dưới đất NamĐinh –Hà Nội –Sài Gòn –Hải
Phòng –Hà nội –Nam Định liên lạc của tôi với
đồng đội –học viên Trường Đại học kỹ thuật quân sự việt Nam Khóa thứ
nhất –C213 được nối lại sau nhiều năm
tôi không biết và cũng không ai biết tôi trôi nổi về đâu sau khi rời Quân đội
từ hàng ngũ Sỹ Quan kỹ thuật Thủ đô về nơi chôn rau cát rốn của mình .
Viết hồi ký này
của tôi có lẽ bắt nguồn từ ý tưởng của
Nghiêm Sỹ Chúng . .
Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu Tướng – Phó Tiến sỹ khoa học
kỹ thuật = Tiến sỹ
Gửi thư cho
đồng đội vả tôi có được từ Email của Tiến sỹ Đại Tá Lê Kinh Tuyến Viện Nghiên
cứu kỹ thuật quân sự V.,N cũng như vậy
từ Tiến Sỹ --Đại Tá Nguyễn Nước Trường Đại học Kỹ thuật quân sự Trần Đại Nghĩa
( Trường Kỹ thuật Quân sự Vin –Hem –Pích )
.
Xin chép ra
đây toàn văn thư của Nghiêm Sỹ Chúng .
Và , có thể nói đó là điều cảm xúc và viết những trang
hồi ký của tôi từ khi về trường Đại học cho tới khi tôi về nghỉ hưu không ai
biết đến .
Và Tôi nghĩ
rằng : bản anh hùng ca của dân tộc Việt Nam ta cũng nằm trong từng trang hồi ký
, hồi ức của mỗi người đi qua trọn vẹn hay một phần của chiến tranh vệ quốc và
giải phóng dân tộc Việt Nam , dù ở đâu , trên chiến trường hay nơi hậu phương ,
hoặc giữa lòng thành phố ,hoặc trên Thủ đô ngàn năm văn hiến .
Thư gửi các ban cựu học viên C213 ĐHKTQS
Các bạn thân
mến,
Trong những năm gần đây HVKTQS đã phát
động những đợt viết hồi ký về nhà trường và đã xuất bản 2 ấn phẩm là Không gian tình thầy (10-2006) và Mái trường trong ký ức (10-2011) gồm
khoảng 150 bài viết của các thày giáo và học viên của HV trong suốt 45 năm qua.
Nhưng đáng tiếc vì lý do thiếu thông tin nên các học viên khóa 1 chúng ta tham
gia rất ít.
Những
chặng đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những
kỷ niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành
một phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng
ta đã đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn
sẽ tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn
phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi
chúng ta lâu nữa!
Chúng
tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường
và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là
thời kỳ 1971 – 1975.
-
Bài viết bao gồm
các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.
-
Đề tài tự do, tất
cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt
nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác
của chúng ta khi ấy.
-
Mỗi người nộp cho
một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá nhân: ngày sinh, địa
chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả mọi người trong C213).
Địa chỉ gửi bài : Nghiêm sỹ Chúng, nhà số 16, ngõ
71/14 phố Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 069562073 – 0973128873 email:
ttbinh2@yahoo.com
Thời gian gửi bài đến hết tháng 12/2013.
Rất mong nhận được sư hưởng ứng của tất cả anh em
chúng ta, Cảm ơn!
NĂM THÁNG
KHÔNG QUÊN
Thay lời đầu và lời tác giả
Cho toàn tập hồi ký
Chúng
tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường
và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là
thời kỳ 1971 – 1975.
-
Bài viết bao gồm
các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.
-
Đề tài tự do, tất
cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt
nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác
của chúng ta khi ấy.
-
Mỗi
người nộp cho một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá nhân:
ngày sinh, địa chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả mọi
người trong C213).
Những năm cuối thập kỉ sáu mươi thế kỉ trước,
mỗi khi có trận đấu của đội bóng đá Sao đỏ trên sân trường hay sân Vĩnh yên đều
chật kín khán giả. Mọi con mắt đều đổ dồn về “bộ ba tam giác quỷ”: Khoa-số 6, Nam số 8 và
Tùng Sơn số 10. Mỗi khi bóng đến chân Số 10 Tùng Sơn là lưới của đội bạn lại
chuẩn bị rung lên…Nói như vậy để độc giả phân biệt Tùng Sơn, Thanh Sơn, Công
Sơn cả ba đều học ở lớp ô tô xe xích đại đội 213 khóa một Trường ĐHKTQS.
Tháng
9/1971 khóa một ra trường, hơn 150 con người tỏa ra mọi nẻo đường của Tổ quốc
để làm nhiệm vụ của người kĩ sư quân sự, một số đã được điều động vào BTL 559
về các binh trạm, một số ở lại trường làm nhiệm vụ giảng dạy, còn lại được phân
công về các cơ quan đơn vị trong toàn quân.
Xin
được góp vài mẩu chuyện từ những năm tháng công tác nhằm góp thêm tư liệu cho
lớp 213 của chúng ta.
***( Đấy là những năm cuối trên đất Vĩnh Yên trước khi
hội đồng quốc gia mở ra cho kỳ bảo vệ
luận án tốt nghiệp của C213 )
Những dòng
viết thêmcủa Đỗ Đăng Đích .
Những năm cuối của Khóa học . Thủ môn nổitiếng Đội
tuyển Bóng đá V.N __ Thủ môn Đức __ đã về trường với quân hàm Thiếu úy và làm
công tác thể thao thể dục của Nhà trường trên Hiệu bộ bấy giờ .
Những nămđang còn
đi thực tế tại các cơ sở Công nghiệp quốc phòng toàn quân , chiếc xe 3 bánh đã
đưa đón chúng tôi rải rác về sân trường để đá giải Nhà trường , và chúng tôi là
tiền thân đội chân giầy của Đại học Kỹ Thuật Quân Sự khi đó .
Thực ra sức
mạnh của đội ở hang tấn công là bộ 3 đã kể , còn hang phòng vệ chắc trái __ Đỗ Ngọc Lan , Trung vệ giữa phải
__ Đõ Đăng Đích . chúng tôi đá với đôi hình 4-2-4 . cũng đủ để chũng tôi chinh
chiến trên sân cỏ và thu hút người xem ham mộ chúng tôi .
Những kỷ niệm
như một giai thoại trên sân bóng và có lẽ chỉ Tường này mới có :
Hôm đó
Trường tổ chức đá giải nhà trường trên sân trường cách Vĩnh Yên 1 km Trận đấu giữa C213 và C113 .
Trái bóng lật
cánh thu hút hang hậu vệ sang phải làm Ngọc Lan chạy lên phải đón bóng , nhưng
quả bóng qua đầu hai trung vệ bay đến trước khung tgỗ không có lưới chỉ có vạch
ngang . Trung vệ Đích vội vàng chạy về sứu nguy và bằng cú phá bóng bằng mà
ngoài chân phải đã tung quả bóng ra biên , khi nó đang nẩy từ ngoài vạch giới
hạn cầu môn chưa chạm đất . quả phá bóng bay nửa nâye này , do tọng tài không
theo kịp cú tấn công của C113 thổi còi
cho ghi bàn thắng .
Tùng Sơn từ
trên sân đội bạn chạy về hỏi tôi : Vào chưa ? Tôi gắt lên : vào đâu mà vào
! nhưng trrọng tài vẫn quyết cho một bàn
vào khung gỗ .
Tất cả chúng
tôi : Bỏ về . không đá nữa . Và như vậy giải bóng đá cũng bế mạc không kèn trồn
. Thế đó .
Tôi còn nhớ
mãi những quả thành bàn thắng do Tùng Sơn đá vào , đều từ “góc chết “ với cú
sút mà ngoài căng làm bóng bay vào ngay sát cột của góc ngay đó ___ cũng đã xem
nhiều những cú sút thành bàn , kể cả của danh thủ anh quốc , Tây ban nha , Đức
,Ý ,CCCP , tôi chưa thấy bàn thắng nào được ghi nhận như của Tùng Sơn Đá vào từ
góc chết đó !
Có lễ
Bộ quốc phòng bấy giờ /thương chúng tôi lắm , cho nên : Chúng tôi gặp những bất
công và bỏ đi không cần biết việc gì sẽ xảy ra ; kể cả việc phản ứng giảng viên
trong khi thi vấn đáp bị cho điểm 2 / 5 bất công cũng bỏ trường lớp đi luôn và
nhận cảnh cáo của Chi bộ Đảng .
Những dòng tản mạn trên lại ập về khi chúng
tôi nhớ về mọt thời học viên Trường Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự V.N của chúng tôi
. Tôi xin gợi nghơ chút đỉnh chođồng đội
khác ngành những những điểm ngoại khóa dễ thương mà nhớ về nhau qua hơn 45 năm
xa cách .
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG B 2VÀ DỌC TRƯỜNG SƠN
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
LÊ TÙNG SƠN
Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường
Tôi và
Trần Phượng đang học bổ túc lái xe để lấy bằng ở trường lái xe 255 thì được
lệnh về Bộ Tư Lệnh Pháo binh nhận công tác. Trước khi đi học tôi là khẩu đội
trưởng 12,7ly đại đội 20 Trường Sĩ quan Pháo binh, Trần Phượng là thợ của trạm
sửa chữa trung đoàn 368 BTLPB. Trần Phượng được điều động về làm trạm trưởng
sửa chữa xe trung đoàn 204-BTLPB. Tôi được điều động về làm trạm trưởng sửa
chữa xe đi B2-chiến trường Đông Nam
bộ.
Khi đến
gặp đồng chí trưởng ban cán bộ BTLPB để nhận quyết định đi B, cho đến bây giờ
tôi cũng không nhớ nổi cảm xúc của mình, bởi lẽ lúc bấy giờ mọi suy nghĩ hành
động của người thanh niên nói chung và người Đảng viên, sĩ quan nói riêng, việc đi B là một vinh dự là một
việc tất nhiên phải làm không có gì phải đắn đo suy nghĩ…
Tôi
được nghỉ phép 15 ngày, về nhà chẵng biết làm gì, nhà tôi ở khu tập thể Công ty
vật liệu khiến thiết Hà nội 17 Hàng Ngang khu Hoàn kiếm, Hà nội các em tôi còn
nhỏ đang di học cấp 1,2 má tôi bận đi bán hàng ở cửa hàng của công ty, ba tôi ở
tận Thanh hóa đang làm giám đốc công ty vận tải lâm sản Tổng cục Lâm nghiệp.
Ngày đi vào đợn vị 675 ở Thanh hóa chỉ có Chúc là vợ của Ngọc Tuấn bạn thân của
tôi đi tiễn ra bến xe Kim liên, lên xe rồi chỉ có vợ bạn là khóc còn mình
thì mong sao đến đơn vị sớm.
Đến
trung đoàn 675 ở Triệu sơn Thanh hóa vào buổi tối, đơn vị đóng trong nhà dân
bản Mường. Ngày hôm sau tôi nhận bàn giao trạm sửa chữa xe của trung đoàn đã
được tập trung từ trước chỉ chờ tôi vào nhận bàn giao để đi B2. Trạm xe có 14
chiến sĩ gồm thợ xe, thợ nguội, thợ rèn và lái xe, trạm có hai xe Vọt tiến chở
trang bị dụng cụ, máy phát điện 10kw…
Đầu
tháng 12/1971 trạm cơ động ra trường bắn 410-BTLPB đề tham gia thành lập đoàn
2047Ađi B2. Đoàn bao gồm đại đội cối 160 ly do anh Bùi như Lạc làm đại đội
trưởng, trạm sửa chữa pháo do anh Phan thanh Nga làm trạm trưởng, anh Nga cũng
học chuyển tiếp C8 ở trường ĐHKTQS và trạm sửa xe của tôi, toàn đoàn có 12 xe
gồm 7 xe Hoàng Hà chở cối cùng đạn cối 160 ly, 3xe Vọt tiến của trạm pháo và 2
xe của trạm xe. Chúng tôi ở tại 410 hơn 10 ngày để củng cố tổ chức, làm dàn
ngụy trang cho xe, bảo dưỡng xe lần cuối. Mỗi xe đều được che chắn buồng lái ở
trên nóc và hai bên cánh của bằng phên tre, nứa. Chúng tôi phải gửi lại tất cả
giấy tờ tùy thân để biến thành chiến sĩ quân giải phóng miền nam…
Ngày
16/12/1971 chúng tôi hành quân về phía nam, lúc này Mỹ đã tạm ngừng ném bom từ
vĩ tuyến 38 trở ra nên chúng tôi được hành quân trên quốc lộ một. Hành quân
trên đường, với lá cờ nửa đỏ nửa xanh cắm ở đầu xe, thỉnh thoảng gặp một đoàn
tàu chở bộ đội đi cùng hướng, hai bên reo hò vẫy tay cùng hát vang những bài ca
giải phóng. Có lúc gặp những bà mẹ, cô gái đang cấy lúa bên đường họ ngửng đầu
lên giơ tay vẫy vẫy và kéo vạt áo lau những giọt nước mắt…tôi chợt nghĩ cũng
may mà mình chưa có vợ chưa có người yêu…
Đến Cự
nẫm Quảng bình chúng tôi dừng lại củng cố đội hình, kiểm tra xe máy, tôi cùng
anh Minh trưởng đoàn đi vào Bộ tư lệnh 559 để xin lệnh hành quân, gặp bác Đồng
sĩ Nguyên Tư lệnh 559 động viên và trực tiếp kí lệnh hành quân tôi cũng thấy
phấn chấn trong lòng và chỉ mong chóng tới mặt trận. Đoàn chúng tôi tiếp tục
hành quân với đội hình đại đội cối 160 ly với 7 xe Hoàng Hà đi đầu, anh Minh đoàn trưởng đi cùng, Trạm pháo đi
giữa gồm 3 xe Vọt tiến và tôi đi cuối
cùng với 2 xe Vọt tiến, tôi đảm nhiệm tham mưu trưởng hành quân có nhiệm
vụ giải quyết mọi sự cố hỏng hóc dọc đường.
Đường hành
quân trên Trường sơn sách báo tài liệu nói nhiều rồi, tôi đã trải qua và nếm
đủ. Từ leo đèo lội suối với những hàng tiêu dẫn đường bằng vải trắng, từ những
đoạn đường được lót bằng những cây cừ cho tới vượt qua những trảng trống..,Từ
những đêm đi bằng đèn ống bơ dưới ánh sáng của pháo sáng và tiếng ầm ì của máy
bay C130, cùng những loạt cối 40 ly trên máy bay bắn xuống mà anh em trường sơn
gọi là ‘xin thùng” đến những lúc vượt qua trảng trống với tiếng gầm của máy
bayL19 đuổi theo và cả những tiềng ầm ầm của bom tọa độ do máy bay F105 ném
xuống…Có đêm chỉ đi được 3km, sáng ra nhìn hố nước mà mình đã uống đêm qua thì
thật kinh hãi bởi phân thú rừng đã ỉa từ lúc nào…
Đến
binh trạm 32 đoàn chúng tôi bị ném bom, cháy mất 2xe CA30 của đại đội cối, nhìn
xe cháy, đạn nổ mà chẳng làm gì được. Đến khu vực trú quân lại bị một trận bom nữa, tốp đi đầu vừa đến
trạm chưa kịp đưa xe vào mang cá thì bị bom, anh em chạy sơ tán vào rừng, anh
Minh trưởng đoàn bị thương nặng và hai ba chiến sĩ nữa cũng bị thương, lửa cháy
ngùn ngụt tiếng rít cua máy bay còn trên đầu, tôi và hai chiến sĩ của trạm xe
(Tín và Thạnh) chạy lên đập cửa kính đấu tắt khóa điện lái mấy chiếc xe ở ngoài
bãi trống vào mang cá tránh lửa bén tới. Trời sáng hẳn mọi người mới trở về xe
để tiếp tục hành quân, anh Minh và các chiến sĩ bị thương phải vào trạm cứu
thương của binh trạm để trở ra Bắc. Cũng từ hôm đó một vài chiến sĩ đã nao núng
tinh thần có ý đào ngũ, và đúng như vậy có hai chiến sĩ đã trốn khỏi đội hình
đơn vị.
Cuối năm 1971 đầu năm 1972 đường Trường
sơn nhộn nhịp hẳn lên bởi ngoài tuyến vận tải nội bộ của Đoàn 559 còn có các
đoàn hành quân đi thẳng vào chiến trường B2,B3 tiêu biểu là đoàn 571 của Cục
Hậu cần Miền(B2), trong đó có đoàn 2047A của tôi. Theo quy định của Tư lệnh 559
xe cuả 559 phải nhường đường cho các
đoàn đi thẳng.
Đến binh trạm 38 một điều bất ngờ ập tới
với tôi: gặp Công Sơn. Lê công Sơn người Nghệ an, cùng tiểu đội học viên, học
giỏi, tính trầm ít nói, ít tham gia hoạt động ngoại khóa văn nghệ thể dục thể
thao, Sơn được điều đi B vào đoàn 559 trước tôi hơn một tháng. Ai ngờ hôm nay
gặp nhau ở chiến trường mừng khôn tả. Gặp nhau ôm nhau mừng rỡ rồi hai thằng
chui xuống gầm xe nằm nói chuyện thâu đêm tới sáng. Cho đến bây giờ tôi không
thể nào quên những giờ phút gặp bạn đó, đêm không trăng nhưng đầy sao, yên tĩnh
không bị lũ C130 quấy rầy, có lẽ chúng biết hai thằng bạn học của trường ĐHKTQS
gặp nhau nên không dám đến khu vực này đánh phá. Thôi thì đủ chuyện trên trời dưới biển chúng tôi kể cho
nhau nghe, Sơn có người nữ bạn học từ thời phổ thông yêu hay chưa thì không
biết, nhưng hắn nói Trâm(tên người bạn Sơn) đã thầm yêu cậu ta. Xin được trích
một đoạn nhật ký của Sơn về cuộc gặp đó (đã được Hà em gái Sơn cho phép trích): “Chiều hôm qua, giữa
Trường Sơn đất lửa, tôi đã gặp lại Tùng Sơn, người bạn thân yêu của tôi. Đang
nằm trong căn nhà dã chiến lợp ni lông, tình cờ đứng dậy đi ra ngoài, Tùng Sơn
gọi sửng sốt "Sơn!". Thế là tôi nhảy ào tới siết chặt bạn trong niềm
vui sướng.Chiều tối lại chỗ Tùng Sơn chơi cách 2 km. Tối đến trải bạt xuống
đất, mắc màn và ôm nhau tâm sự đến hơn 1h sáng mới ngủ thiếp đi trong niềm vui
gặp bạn.
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miềnNam .
Bạn đang còn đi xa hơn tôi nhiều vì tôi mới chỉ đi đến vĩ tuyến Quảng Đà, còn
Tùng Sơn đi vào B2. Thế là 3 thằng Sơn đều vào chiến trường cả.Nằm tâm sự, Tùng
Sơn đã kể về gia đình mình, vui nhất là điều mong muốn của mình được thực hiện:
ba mẹ và các em đều khoẻ. Em Hà được vào học sư phạm 10+3. Tình hình gia đình
như vậy là rất tốt, chỉ còn mình lo công
tác cho tốt nữa thôi.”
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miền
Vậy là 3 Sơn của B5 đã vào chiến
trường: Thanh Sơn và Công Sơn vào 559 còn tôi vào B2 Đông Nam bộ. Sơn
nhất quyết sau khi chấm dứt chiến tranh sẽ đi học tiếp, lấy cho được bằng phó
tiến sĩ. Đúng như Sơn nói sau này khi đã về làm phó phòng quản lý sử dụng Cục ô
tô máy kéo, anh ta vài lần đi thi nghiên cứu sinh nhưng rất không may đều
trượt. Trượt về mơ ước học vấn phải chăng làm cho cuộc đời Sơn gặp không may về
nhiều chuyện khác về gia đình riêng, rồi kết cục mà năm 2006 khi tôi nằm cùng
viện 175 với Sơn thì Sơn trút hơi thở cuối cùng vì bạo bệnh. Lúc mất Sơn là Đại
tá chủ nhiệm kho J250 Cục oto máy kéo-TCKT.
Cuối
năm 1972 lúc đó tôi vẫn là trạm trưởng sửa xe thuộc Đoàn Pháo Biên hòa chiến
trường miền đông Nam
bộ. Gặp anh Trần Ba lớp chuyên tu 221 trong một hoàn cảnh đặc biệt: nồi cháo
ong thấm bom tọa độ. Hồi
ấy sau một đêm hành quân chuyển cứ về “đồi Tám cách mạng”(một địa danh bên đất
CPC tỉnh Krache), gần sáng thì tới vị trí đóng quân. Tôi ra lệnh cho đơn vị
nhanh chóng triển khai đào hầm trú ẩn, mọi người nhanh chóng dỡ phụ tùng dụng
cụ xuống xe, phủ bạt và phân nhau đi đào hầm. Hầm chỉ huy do tổ thợ rèn của
Nguyễn thế Hệ đào. Dáng người to khỏe, cao lớn, Hệ cuốc từng nhát phầm phập mặc
dù mùa khô bên đất CPC đất rất cứng như sỏi đá. Bỗng đâu những tiếng ù ù ù vang
đến và trời đất như tối sầm lại…cố gắng định thần mọi người thấy một đàn ong
mật vô vàn con đang ào ào xông tới đốt túi bụi…Thế là mạnh ai người ấy chạy,
tôi cùng y tá Hùng mải miết chạy và chạy, đằng sau đàn ong vẫn uốn lượn đuổi
theo, cổ và tay đã được nêm vài mũi chích rồi. Chạy được vài cây số thì may
thay chúng không đuổi theo nữa, định đốt đống lửa để đề phòng thì nghe thấy
tiến vè vè của máy bay trinh sát OV10 trên đầu, thế là đành phải ngồi trong
bóng cây chịu trận. Khát và đói nhưng chăng làm được gì bởi “cứ”(tức là mơi
đóng quân) thì ong đã chiếm mất rồi. Trời tối anh em chúng tôi lục tục trở về
cứ, bấm đèn soi thì thật bất ngờ: tổ ong dài gần 2 mét to bằng cái bàn làm việc.
Hệ và mấy chiến sĩ đốt đuốc xông khói bắt bằng được tổ ong nọ. Một nồi hai mươi
mật và hai nồi con ong bắt được. Đêm ấy chung tôi nấu một nồi cháo ong ăn bù
cho một ngày bận bịu vất vả, chưa kịp vào mâm thì thật bất ngờ: anh Trần Ba
tới. Anh
Trần Ba là học viên chuyên tu lớp 221 ra trường cùng cuối năm 1971, đi chiến
trường theo đường bộ vào miền Đông Nam bộ công tác tại phòng quân giới
miền (phòng 4), nghe tin tôi đã vào chiến trường anh lặn lội xuống thăm. Thời
bấy giờ ở B2 quãng đường tính bằng giờ đi bộ chứ không tính bằng km, từ chỗ anh
tới tôi đi mất 5 giờ. Gặp nhau mừng vui khôn tả, hỏi thăm bạn bè, đồng đội và
ôn lại những ngày còn ở nhà tầng Vĩnh yên…Lúc nồi cháo được bưng ra tôi kể cho
anh nghe về trận tấn công của bầy ong mà
mọi người trải qua giờ mới có thành quả là nồi cháo. Bỗng “ào, ào” chỉ kịp nghe
tiếng xé không khí của máy bay F105 bay qua thì chúng tôi đã nằm gọn trong hầm
và “ầm ầm” hai quả bom “tọa độ” đã nổ cách chúng tôi khoảng vài chục mét. Đêm miền
đông lại tĩnh lặng, chúng tôi lên khỏi hầm để tiếp tục cuộc chén thì ôi thôi
nồi cháo đã bay mất rồi, mùi cháo còn thơm lừng với những vụn cháo vương vãi
đâu đó dưới ánh đèn pin. Cũng may mà còn được một bi đông mật để đãi anh Trân
Ba.
Bây giờ
có nhiều cuộc vui với nhiều món sơn hào hải vị, nhiều thức uống cao cấp đắt
tiền, nhưng với người lính chẳng có món nào ngon hơn tình đồng chí đồng đội, đó
là điều mà không có gì có thể mua được và cũng không dễ gì có được nếu không
nếm trải gian khổ nơi chiến trường.
Giữa Năm 1973 bất ngờ tôi lại được gặp tiếp hai
thày trò của lớp xe: Anh Bùi thức Hưng và Đỗ thành Hưng. Anh Bùi thức Hưng là
giáo viên dạy chúng tôi về kết cấu oto Hồi còn ở trường anh em rất thân nhau,
anh học khóa 7 Bách khoa chuyển sang làm giáo viên của trường, tính tình điềm
đạm cởi mở và rất tận tình với học trò. Với những học viên có biệt tài đá bóng
như tôi anh càng ưu ái. Không ngờ được gặp anh tai chiến trường Đông nam bộ
những ngày sôi động sau hiệp định Pari thật vui mừng hết xiết, thật tiếc nghe
đâu anh bị tai nạn xe trong khi đi công tác lên biên giới phía Bắc trong cuộc
chiến 1979. Đỗ thành Hưng quê Hưng yên,
học khóa đầu trường Nguyễn văn Trỗi, được tuyển thẳng vào Đại Học KTQS, học
giỏi, sau khi tốt nghiệp được phong quân hàm Chuẩn úy và được phân công về Bộ tư
lệnh Tăng Thiết giáp. Khi đi B2 là đại đội trưởng sửa chữa trung đoàn tăng tăng
cường cho đoàn M26 Bộ Tư Lệnh miền. Hai thằng gặp nhau ở trạm xăng dầu Lộc
ninh, lúc tôi đang chuẩn bị đi phục vụ chiến dịch Phước long. Cùng tiểu đội nên
tôi còn nhớ nhiều kỉ nhiệm về Hưng. Sau này khi giải phóng miền Nam , Hưng về
Quân khu 9 sau đó về lại QK7 làm trưởng phòng tăng Cục kĩ thuật rồi về hưu sớm
do hoàn cảnh gia đình. Hiện giờ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong cảnh sức khỏe
giảm sút nặng nề: Hưng đã đặt 5 Stel trong mạch vành tim…
Khi về
căn cứ Bà chiêm Tây ninh tôi gặp bạn Trân Phượng. Trân Phượng cùng tiểu đội và
cùng “tổ tam tam”, anh ta có câu nói nổi tiếng: “Tắm nhiều làm gì cho nó nhão
thịt” vì bản chất của anh ta rất lười tắm, hai chân “eechdima” lúc nào cũng gãi
sồn sột hầu như anh nào của B5 cũng đều nhớ cả. Phượng về BTL Pháo binh cùng
tôi, về làm trạm trưởng sửa xe trung đoàn 204, khi đi B2 thì đã làm trợ lý xe
trung đoàn rồi. Gặp nhau hỏi thăm được vài câu rồi chia tay vì trung đoàn 204
đã được điều động về quân đoàn 4(lấy phiên hiệu là 434), sau này khi đi chiến
dịch mùa khô 1984 ở CPC tôi còn gặp Phượng ở mặt trận 479, lúc này Phượng là
CNKT sư 7/QĐ4. Phượng sống ngay thẳng thật thà, khi về hưu “hoàn cảnh” đến mức
phường Linh trung quận Thủ đúc TP HCM phải xây tặng cho một căn nhà tình nghĩa.
Lần cuối cùng gặp nhau là ở bệnh viện 175, tôi đi điều trị mạch vành tim còn
Phượng bị ung thư hạch, năm 2006 Phượng qua đời trước Công Sơn vài tháng.
Gặp
nhau trong chốc lát, mừng vui rồi chia tay ai về đơn vị nấy. Tôi tiếp tục chỉ
huy đơn vị đi sửa chữa xe phục vụ các chiến dịch cho tới khi giải phóng miền
nam 30/4/1975.
Sự đời
thật trớ trêu, khi còn thanh xuân vui vẻ và tếu táo, khi về già gặp nhau trong
bệnh viện vẫn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ba thằng cùng tiểu đội lại góp
phần phong phú thêm cho khoa A1 bệnh viện 175…
Tôi gặp
bạn trong lớp khá nhiều, song bốn bạn gặp ở chiến trường thì đã mất hai rồi.
Vẫn biết sinh có hạn tử bất kì, người ta chỉ chữa được bệnh chứ không chữa được
mệnh, nhưng mỗi khi nhắc đến lớp đến trường thì những kỷ niệm vui buồn đều nhớ
đến người đã khuất dù rằng bản thân tôi cũng mắc nhiều chứng bệnh nan y. Cũng
vì vậy mà dù không biết viết văn tôi vẫn cố ít dòng mong sao cho thế hệ học
viên đi sau biết cha anh chúng đã sống và đối nhân xử thế như thế nào; để rồi
vững bước trên đường xây dựng tổ quốc trong thời đại
mới hôm nay . ./
Chuyện
thứ hai:
Sửa xe M113
dưới pháo sáng
Sau
thắng lợi chiến dịch Lộc ninh, cuối năm 1972 quân giải phóng mở chiến dịch Bình
long nhằm cắt đứt đường 13 mở rộng vùng giải phóng chờ thời cơ tiến về Sài gòn.
Để phục
vụ chiến dịch, trước đó trạm xe của tôi đã đi sửa hết một vòng các đơn vị trong
Đoàn pháo Biên hòa. Khi học ở trường tôi hay nói vui với các bạn: mình được đào
tạo để “cái gì cũng biết, nhưng chẳng biết cái gì cả”. Ra trường tiếp xúc với
thực tế nếu biết vận dụng “cái gì cũng biết” với tinh thần cầu thị không dấu
dốt, sẵn sàng học hỏi và xắn tay áo lao vào làm với anh em thợ, những người thợ
lành nghề thì sẽ “biết làm” và biết chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Trời
phú cho tôi cái tính hòa đồng và điều quan trọng hơn cả là trong chiến tranh
gian khổ ác liệt cận kề với cái chết thì tình thương yêu đồng đội còn quý hơn
cả cái gọi là trên dưới, sĩ quan và binh lính…Vì vậy trạm của tôi đã luôn hoàn
thành nhiệm vụ trên giao, cũng có chiến sĩ bị thương nặng trong chiến dịch Lộc
ninh(cậu Phương bị bom ở cầu Cần lê trên đường 13), nhưng tinh thần vẫn không
nao núng.
Chiến
dịch Bình Long lực lượng pháo chiến dịch chủ yếu là lựu pháo 105,pháo chống
tăng 85 các loại DKZ, cối 160,120…Đặc biệt ta thu được một số pháo 155ly của
địch, không có xe kéo phải dùng xe M113 thu được của địch để kéo pháo. Những
trận đánh đang diễn ra ác liệt thì một xe M113 trên đường ra trận địa bị hỏng.
Không có xe kéo pháo thì quả là một điều khó khắc phục bởi pháo 155 nặng tới
gần 5 tấn.
Tôi
đang ở căn cứ của trạm và mới trải qua một trận sốt rét thừa chết thiếu sống,
nhiệt độ lên tới 41,2 độ, trời nắng chang chang nhưng vẫn trùm chăn ngồi cạnh
đống lửa . Ai đã ở chiến trường đều hiểu sốt rét là thế nào, nóng hầm hập nhưng
vẫn lạnh run người, miệng khô môi nẻ cơm không ăn cháo không màng chỉ thèm dâu
da rừng…muốn đứng dậy phải hai tay hai gậy chống…Có lẽ bài học vỡ lòng và
chuyên sâu của người lính ở chiến trường là sốt rét. Đang nằm trên võng thì
liên lạc của Phòng hậu cần gọi tôi lên Phòng nhận nhiệm vụ gấp. Tôi vơ vội quần
áo tăng võng bỏ vào bồng và gọi Hệ hộ tống tôi trên đường về phòng Hậu cần.
Anh
Khanh trưởng phòng hậu cần Đoàn pháo Biên hòa giao nhiệm vụ cho tôi đi sửa cái
xe M113 ấy. Anh nói: “Tôi báo cáo với Tư lệnh pháo binh, tôi chỉ còn dự trữ một
kĩ sư duy nhất, nay tung ra rồi, Tư lệnh yên tâm, sẽ có xe kéo cho pháo 155ly”.
Tôi chỉ
thị cho Hệ đi sang cánh Bắc gọi Tín là thợ xe chủ lực của trạm về vị trí xe M113T(Tín
học ở trường trung cấp Bộ nông trường, tay nghề rất giỏi) Gần tối chúng tôi gặp
nhau ở trong một khu rừng dầu nơi chiếc xe M113 nằm chình ình một đống. Hỏi Hẩu
lái xe tình trạng xe thế nào, anh ta bảo xe chạy đến đó vướng gốc cây không
chạy được, tắt máy xong lên nổ lại thì không khởi động được. Hỏi không khởi
động được như thế nào thì anh ta trả lời mỗi khi ấn nút nó chỉ kêu lạch cạch
lạch cạch. Tôi bàn với Tín có hai khả năng: bình điện yếu hết điện hoặc khởi
động có vấn đề. Tín dung hai sợi dây dẫn đấu vào hai cực bình điện quệt thử thì
tia lửa rất mạnh. Đoán là nguyên nhân từ khởi động.
Hai anh
em chui vào buồng máy, máy xăng hình chữ V giống động cơ Zin130 của ta. Sờ tìm
khởi đông…Không thấy đâu. Trời tối chỉ có sao không có trăng, trên đầu máy bay
OV10 vè vè, máy bay C130 ầm ì thả pháo sáng, thỉnh thoảng nó quăng vài quả cối
40ly vu vơ…Vai tiếng đồng hồ trôi qua, nếu không sửa xong xe trước trời sáng
thì sẽ ảnh hưởng tới quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy. Máy bay vẫn gầm rú
trên đầu pháo sáng soi rõ hai khuôn mặt đầy dầu mỡ pha chút lo lắng.Tôi chợt
nghĩ sao không chui xuống gầm thử tìm xem, hai anh em chui xuống dưới gầm xe,
mặc cho bùn đất lấm lem quần áo mặt mũi, mỗi người một đầu gầm khảo sát. Bổng
tôi thấy một vành bu long bắt chặt một
cái nắp tròn bằng cái mâm đồng ăn cơm, tôi gọi Tín bò lại và chỉ nó rồi bảo Tín
tháo cái mâm này ra. Điều vui mừng tới bất ngờ bởi cái khởi động bằng con lợn
con nằm chình ình ra đó…Tín nhanh chóng tháo và chùi hai đồng xu khởi động, chỉ
vừa kịp vặn buloong cuối cùng của nắp
chắn tôi đã bảo Hẩu lái xe nổ máy. Tiếng máy nổ rền vang trong tiếng reo vui
của mọi người…
Bây giờ kể ra chuyện này có thể ai cũng thấy
ngô nghê, lạc lõng quá tầm thường nhưng lúc bấy giờ trong hoàn cảnh chưa tiếp
xúc với xe hệ hai bao giờ, lại thêm máy bay quần đảo trên đầu, thời gian gấp
gáp, việc tìm thấy cái khởi động cũng là một niệm vui cho anh em tôi rồi, quan
trọng hơn là hoàn thành nhiệm vụ có xe để kéo pháo. Đến lúc ấy chúng tôi mới
thấy khát và đói. Cho đến bây giờ kỷ niệm
về “cái khởi đông M113” vẫn rõ mồm một trong tôi, bài học ở trường là phương
pháp, là tư duy, còn bài học ở đời là sự vận dụng là quyết tâm, là sự bình thản
trong mọi tình huống.chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy.
TR
ÊN Đ ẤT TH Ủ Đ Ô
Đ
ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
Thời gian trôi đi mà ta không để ý thì chỉ như một
chớp mắt của thế kỷ mà thôi . Hà Nội , Sài Gòn tên các đường phố tôi đi và đây
đó tên gọi của chúng đối với ai đó có vẻ như xa xôi như thời Trần Hưng Đạo ,
Quang Trung , Các tên trường học ai đó nghe cũng xa xôi như Lê Quý Đôn , Lương Thế Vinh và V ân V ân .. Nhưng trong
tôi những tên đường phố , tên trường thật gần sát ngay bên mình , và tôi lại
nhớ đến những ngày chúng tôi ra trường
và đi trên khắp miền của Tổ quốc thân yêu .
Trong những
ngày hè của năm 1971 gần 300 Kỹ sư quân sự của Trường Đại học kỹ thuật quân sự trong
buổi Lễ Tốt nghiệp . chúng tôi đón Tướng Vương Thừa Vũ v à Trần Đại Nghĩa về
trường và Đại tá Chính uỷ kiêm Hiệu
trưởng Đặng Quốc Bảo cùng nhiều Đại tá khác trong suốt buổi lễ với bầu không
khí hân hoan bởi khoá kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam , buổi lễ thật trịnh trọng tuy không có mũ áo cử nhân như
hôm nay , chỉ những bộ quân phục với quân hàm học viên sỹ quan quân đội , bởi
chúng tôi chưa có quyết định quân hàm cho từng người . Thế mà , bây giờ tên các vị tướng ấy đã là
tên đường phố , tên trường học , và có học viên đã là Trưởng khoa của trường
mang tên người làm lễ tốt nghiệp cho
mình và tôi cảm thấy như thời gian ngừng
trôi , bởi chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến tuổi tác của mình mà chỉ thấy mới
như sau một đợt chiến dịch mà thôi.
Sau lễ tốt
nghiệp, chúng tôi trở về doanh trại và tiếp tục tập vượt núi Tam Đảo dựng đứng
để chuẩn bị cho Những ngày Vượt Trường Sơn khi có lệnh vào chiến trường Miền Nam . Lại là những ngày gian khổ mới khi mà đường
vượt của chúng tôi tuy ngắn hơ n đường vượt của Sư đoàn 312 nhưng dốc núi dựng
đứng và đường hành quân hiểm trở __-một con đường vạch theo bản đồ tác chiến
đột nhập hẳn Tam Đảo bất chấp núi đứng dựng thách đố người lính trẻ sung sức ,
cùng ba lô và hành trang tới 30 kg . Gian khổ bấy giờ của chúng tôi cũng vợi đi
và được khích lệ bởi các đoàn tàu hoả chở Xe tăng chiều chiều từ Ga Vĩnh Yên
chạy trên đường sắt mà trên khu nhà bốn tầng xây dở dang , hoặc đâu đó trước
cổng trường chúng tôi thấy mỗi chiều khi ‘hoàng hôn gần buông hoặc khi trời
chiều miền trung du đầy gió .
Sau nhận quyết
đinh quân hàm thuộc hàng ngũ Sỹ Quan Quân đội , chúng tôi nhận ngay địa điểm
nhận công tác ,rồi lần lượt rời khỏi mái trường Đại học đầy kỷ niệm này ..
Tôi được nhận
Quân hàm Thiếu uý cùng giới thiệu chung về Trạm 66 Bộ Quốc phòng tại Hà Nội .
Lần lượt
chúng tôi đi nhận nhiệm vụ về những đơn vị khác nhau , từ đó bắt đầu những
chặng đường mới trên vai trách nhiệm của một kỹ sư quân sự cùng với sự trưởng
thành vượt bậc qua năm năm học tập và
rèn luyện trong trường với lòng yêu thương và tin tưởng của Bộ Quốc phòng . Về
trạm 66 nhận nhiêm vụ ,trong đại đội của tôi , tôi thấy chỉ có mình tôi và đợi
cho đến cuối cùng mới được đồng chí phụ
trách phân công cán bộ của Tổng Cục kỹ thuật phân công cho tôi và anh Nguyễn Văn
Trình đại đội chuyên tu khóa 1 về Cục Vật tư ở Bưởi .
Hai anh em chúng tôi một Trung úy , một Thiếu úy Kỹ sư
quân sự được thông báo về Cơ quan Cục ; Trạm 66, đi bộ đoạn ngắn chúng tôi đeo
ba lô lên Tàu Điện bên vườn hoa về Bưởi .
Cục Vật tư bấy
giờ sát ngay bên bờ Hồ Tây , đối diện ở bờ bên kia là khách sạn Thắng Lợi nhô
ra soi mình xuống mặt hồ xanh trong .
Anh Trình được
quyết định Trạm Trưởng xuống Trạm Sửa
chữa của Cục bên Gia Lâm , còn tôi nhận
quyết định Trợ lý Xây dựng Nhà máy của Phòng Tổ chức –Kế hoạch Cơ quan Cục với bản đánh máy và chữ ký của
Thượng Tá –Cục trưởng Trần Ngọc Giao .
Cũng trong khi
đợi ở gian nhà lá chờ gọi là phòng khách
tôi ngẫu nhiên gặp lại Nhơn người Quảng Bình cùng tiểu đoàn huấn luyện Hải Quân
ở Căn cứ II –năm xưa - Trung úy , cũng đang chờ vào Cục để nhận quyết đinh ,
theo Nhơn nói là để đi B , và bấy giớ
nói là đang làmChính trị viên của xưởng Sản xuất Sơn và Khí Ô-Xy của Cục dưới
Kiêu Kỵ --Phú Thụy Hưng Yên . Xưởng này về sau tôi được biết cũng từ Quân chủng
Hải Quân chuyển giao sang để hợp thành
nhà máy mà tôi làm trợ lý xây dựng khi đó chỉ có xưởng giao sang . Và Nhơn và
tôi chỉ nhận nhau sau gần 10 năm từ khi rời tiểu đoàn huấn luyên để xuống tàu và
đi các đơn vị bờ biển ; không kịp
chuyện gì thì tôi và Anh Trình vào Cuc còn mình Nhơn ngồi chờ ; rồi tôi đoán rằng
: Nhơn đã đi học Sỹ quan năm 1964 trường sỹ quan Hải quân –trường 45 Quảng Yên
– Quảng Ninh mà năm đó tôi đã xin ở lại Khu Tuần phòng Hải Phòng không đi học ,
sau khi rời đoàn không số xuống tàu Tan-kít
rồi lên trạm sửa chữa Hải Phòng .
NHỚ NHỮNG
NGÀY BÊN BỜ HỒ TÂY
Tôi nhận
trách nhiệm thiết kế và hướng dẫn thi công toàn bộ hệ thống điện , nước trong
nhà , các phòng : phòng ngủ ,phòng khách , phòng họp cũng như khu vực nhà của
các chuyên viên phục vụ ; chiếu sáng ngoài trời cho toàn khu nhà .
Thiết kế ánh
sáng cũng như cấp nước cùng thiết bị Điện nội thất bấy giờ chúng tôi được phê
duyệt trực tiếp với Cục Trưởng trên Bản vẽ thiết kế vật liệu trong ( Bản
chính – trên Giấy Can) .
Trong những
ngày ngồiThiết kế bên Hồ Tây , chúng tôi được gặp Tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm
trước tiên khi đến Cục vì bộ phận chúng tôi là bộ phận kỹ thuật gồm Các kỹ sư
và vài cô Thợ Can .
Tôi còn nhớ :
hôm đó , đang mải vẽ tạo dáng một đèn góc nhà ánh sáng phản chiếu , không để ý
đến trước phòng cục Trưởng có Đại Tướng đến , khi có Cục trưởng vào Đại tường cùng
vài cán bộ đi theo đến hiên trước phòng , tôi mới bỏ cây chì nhìn ra thì Đại
Tướng đã đứng ngay cạnh bàn làm việc của tôi và hỏi :
__ Đồng chí học gì ?
Tôi lúng túng
không biết trả lời thế nào , bởi vì khi đó tôi đã vẽ hình dáng đèn góc phản xạ
riêng cho phòng ngủ của Khu B ( Khu B để chỉ khu nhà của Tổng Bí Thư đang được
xây ) , Nó có hình dáng kiến trúc chẳng quan hệ gì đến nhiệm vụ một việc kỹ
thuật của cục Vật Tư ; Tôi chỉ biết trả lời
;
-- Tôi học ở
Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự .
Đại Tướng ngạc nhiên hỏi :
--Kỹ thuật Quân
sự sao lại làm cái này ?
Tôi chưa biết
trả lời ra sao thì đứng ngay sau
ĐaiTướng là Cục Trưởng
Ông rất nhanh
trí và trả lời ngay :
--Việc này
cũng thuộc về Điện .
Đại tướng rời
khỏi bàn tôi và bắt đầu thăm hỏi từng người từ chuyên môn cho đến nơi tốt
nghiệp rất thân tình và quan tâm .
Tôi gặp Đại
Tướng lần đầu đã để lại trong tôi lòng kính phục và yêu mến bởi sự gần gũi ,
tác phong gọi là rất quần chúng đượm một màu thân thiết tình đồng chí không
phân biệt ông là chỉ huy và ở cương vị thống lĩnh quân đội nhân dân việt nam .
. những năm ấy Đại Tướng không khỏe ,. người gầy và thường hay xuống cục tôi để
bơi thuyền và nghỉ ngơi bên bờ Hồ Tây này yên tĩnh và mát …
Công việc xây
khu nhà đang tiến hành lắp hệ thống điện thì chiến dịch đánh chiếm tây nguyên
diễn ra ác liệt , nhưng chúng tôi ở ngoài Thành và là bộ phận Kỹ thuật nên
không biết tin gì từ Cục Tác chiến .
Một chiều ,tôi
từ khu B về phòng gửi cặp bảo mật để thể thao chiều thì một cô văn thư thân với
tôi bảo rằng :
__Anh có quyết
định đi B đấy .
Tôi nói :
__Không biết ,
mình vừa bên Khu B về !
Hôm sau ,
Tôi thấy quyết định anh bạn – Trung úy Lê Đình Tấn cũng cấp với tôi – Kỹ sư cơ khí chế tạo Bách
khoa Hà Nôi khóa 7 . nhận quyết định cùng Cục Phó Ngô Kỷ đi B .
Đó là khi vừa
giải phóng xong Ban Mê Thuột và Cục Phó và một kỹ sư giỏi , có năng lực và biết
ngoaị ngữ đi để thu hồi toàn bộ vật tư và chiến lợi phẩm sau khi quân ngụy tháo
chạy .
Khi từ Ban Mê
về mang về Cục trước khi chuyển tổng cục , tôi mới mục sở thị bộ Grande La
Rouss của Tiếng Pháp mà trước đây chỉ có trong thư viện cuốn Petite La Rouss .
Nó gồm 24 cuốn khổ Letter , một cuốn cho một chữ cái pháp ngữ .
Khi
đó tôi có quyết định đi B là văn bản do
văn thư đánh máy để xin chữ ký Cục trưởng
nói cho tôi biết ; nhưng bấy giờ
phải dừng công việc khu B , nếu tôi
đi Ban –Mê- Thuột như điều động của phòng cán bộ -chính trị Cục .
Kể từ khi
giải phóng Ban Mê Thuột , cuộc tiến công giải phóng miền nam và đánh vào Sài Gòn
dần dần bắt đầu vào chiến dịch mới mà mãi sau này mới gọi là Chiến dịch Hồ Chí
Minh , chúng tôi vẫn tiếp tục phải hoàn thành công trình xây dựng của bộ giao
cho Cục chúng tôi . Trong thời gian gọi
là Chiến Dịch Hồ Chí Minh và khi hoàn thành , giải phóng Sài gòn ,thì chúng tôi cũng đã hoàn
thành xong khu B của Bộ Quốc phòng giao cho.
Trong những
ngày đầu hoàn thành sau giải phóng Sài gòn , tôi cũng đã được gặp Tổng bí thư
Lê Duẩn vừa từ Sài gòn ra đến xem , kiểm tra Khu B , có khi bằng Xuồng máy từ
phía bờ Khách sạn Thắng Lợi sang , có khi đi Ôtô vừa lấy từ phía nam ra .
_Trong một
ngày nghỉ , Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi đi nghỉ bằng Pê-Rit-Xoa từ phía khách
sạn ghé lên Khu B Phía ngoài Khu B cạnh
đường là một trường tiểu học . khi biết Thủ Tướng đến thăm khu B, Các cháu học
sinh tiểu học quanh đấy gọi nhau đến xúm quanh Thủ Tưứng và Thủ tướng than mật
chuyên trò thăm hỏi .KHi đó Thủ Tướng gầy gò lắm
Những lần đi
bên Tổng Bí Thư và Thủ Tướng trong Khu B đã cho tôi một cảm nhận tốt đẹp về các
nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam chúng ta ; đó là sự gần gũi nhân dân và
được nhân dân tin tưởng , yêu mến , nhất là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Từ người
già , trẻ nhỏ ai ai cũng kính trọng và yêu mến .
Đối với Đại
Tướng đã để lại trong tôi một tác phong giản dị , sâu sát của một chỉ huy , một
Tướng lĩnh gần gũi với mọi cấp sỹ quan trong quân đội nhân Dân việt Nam .
Một Bản lĩnh Tướng Soái Việt Nam .
Cho đến bây giờ tôi mới hình dung ra những nẻo đường
các kỹ sư quân sự khóa 1 , sau khi ra trường tỏa đi khắp đơn vị quân đội phục
vụ cho cuộc kháng chiến giành đọc lập tự do trong giai đoạn vũ khí và phương
tiện chiến tranh là quan trọng nhất ; chúng tôi người đi chiến trường , người ở
lai hậu phương trong các cơ quan khoa học và kỹ thuật để xây dựng một hậu thuẫn
kỹ thuật quân sự trong cuộc chiến .
Trong những
ngày vừa về Cục , tôi gặp Lê Kinh Tuyến ở Viện Nghiên cứu Kỹ thuật quân sự khi
tôi sang tham dự , nghe một hội thảo và báo cáo Đề tài Nghiên cứu của Viện . Có
thể nghĩ rằng các kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam không những có mặt trên
các chiến trường , các quân đoàn binh trạm và cả trên thủ đô đều đóng góp hết sức mình để đi đến thắng lợi
30 tháng 4 1975 , xứng đáng là đầu đàn của Học viện hôm nay .
Vừa tốt nghiệp ra trường , tôi được điều động làm trợ
lý xây dựng nhà máy và lao vào công việc bổ túc tri thức loại hình thiết kế mà
trong trường chúng tôi chỉ được học đúng theo hệ kỹ thuật quốc gia bấy giờ .
cho nên , khi Thiết kế các phân xưởng sửa chữa cũng như thiết kế các hệ thống
Dân sự , tôi phải “tự” đào tạo ;học và nghiên cứu phù hợp với các công trình
dân sự mang tính quốc phòng chứ không phải các trận địa T_Tên lửa hay Pháo 100 , hay một trận địa RA-
Đa nào đó . Trong đó cần tự học và nghiên cứu thiết kế nhà máy , phân xưởng Sản
xuất và sửa chữa Công nghiệp ; cũng như vậy với Hệ thống chiếu sáng và đặc biệt
là Hệ thống chiếu sáng bằng đèn huỳnh quang mà trong trường nó nằm ngoài chương
trình đào tạo ; do đó tôi phải học thêm và nghiên cứu qua giáo trình mới , tìm
trong Thư viện Khoa học Kỹ Thuật TW__ Lý Thường Kiệt bấy giờ ; Khó khăn không phải
gặp kẻ thù như ngoài chiến trường , tiền phương mà phải tiếp cận với cái mình
chưa được học , cho nên phải Tự học trên giáo trình mới và trên thực tế các xí
nghiệp bấy giờ . còn chiếu sáng bấy giờ , dùng đèn huỳnh quan như là một sự
chiếu sáng sa xỉ đối với nhân dân ., vì là khu nhà của Tổng bí thư nên tôi phải
đọc và học hết một giáo trình chiếu sáng điện bằng đèn huỳnh quanh bằng Tiếng
Nga cà vừa học vừa Thiết kế ; bấy giờ nhiều người kêu ca là tôi dùng nhiều đèn
quá , rồi sau ngày giải phóng Sài gòn người đi công tác trong đó ra lại bảo ánh
sáng khu B ăn thua gì ! …; lại trong chiến tranh chống bắn phá của Mỹ nên Dụng
cụ chiếu sáng thích hợp hầu như không có , kể cả trong Tất cả các kho Vật Tư
Công nghiiệp của Cục tôi , ví như chụp đèn chiếu sáng ngoài trời , blog , giá đèn huỳnh quang đều không kiếm
đâu ra . Để tìm một chụp đèn cổng vào khu B thôi, tôi tới Các kho và vào cả xí
nghiệp Thủy Tinh Dân Chủ , xí nghiệp
Thủy Tinh Hà nội bấy giờ , đi cùng cán bộ chạy Vật tư của Cục , vẫn không có ;
cuối cùng đành lấy một chụp đèn trần trên tàu biển thay cho Chụp đèn tương
thích cho Cổng ra vào khu vực .
Những ngày
nóng nực dưới trời Thủ đô , đúng là nắng lửa , đúng vào dịp chiến tranh phá
hoại của miền Bắc của Mỹ leo đến mức ác liệt và chúng kiên quyết nhất , trường
Đại Học Bách khoa phải tạm dừng học tập
để sang phục vụ quân đội . Đó cũng là thuận lời cho tôi khi vừa ra trường và
cùng phối hợp với các giảng viên Đại học Bách khoa cùng thiết kế và bảo vệ
thiết kế , cũng như sự kiểm soát thiết kế của tôi bấy giờ do một vài Phó tiến
sỹ phối hợp .
Công việc
thiết kế nhiều , bản vẽ lắm , nơi làm
việc không thể tập trung và khó có thể xa Hà Nội đến nơi sơ tán của Bách khoa ,
, nên tôi làm việc ở cơ quan bên bờ hồ tây phia Bưởi thường phải đi theo dõi và
phối hợp trong trường Bách khoa cuối đường tàu điện , nhưng chiến tranh không
thể ngồi tầu điện mà phải cuốc bộ đi làm việc bởi mới về cơ quan chưa có xe đạp
phân phối để công tác . Đó cũng là những tháng ngày cũng tốn nhiều sức lực
trong khi đó các đồng đội tôi , bây giờ tôi mới biết , rất đông đang lăn lộn
trên chiến trường Miền nam và các quân đoàn cơ động , còn tôi chỉ mệt nhoài
giữa Thủ đô mà thôi . .. Và tronh sự mệt nhọc do ddi bộ dọc Hà Nội mà tôi “
nghiệm trên người mình “ ché nước chè 4 hào rưởi đặc quánh, từ đó … ..băt đầu
uống trà và … nghiện trà luôn !
Ở Hà Nội
cho đến khi tôi chuyển ngành ra ngoài , những ngày Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống Thủ đô ta cũng
là những ngày không thể nào quên của tôi trên đất Thăng Long Hà Nội .,cùng với những năm tháng sống trong
lòng Hà Nội .
KHÔNG ĐỀ
Những người con được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội rổi rời
Hà Nội đi chiến đấu ,cũng như những người con của Hà Nội từ miền đồng bằng Hồng
Hà lân cận về Thăng Long trong sắc phục quân đội Nhân dân V.N qua trọn vẹn cuộc
chién tranh vệ quốc và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam , trong thế kỷ 21 này người Nam kẻ Bắc , người trên Thủ
đô , hết thảy đều tự hào về Thủ đô thân yêu của chúng ta , biết bao vui buồn ,
kỷ niệm và tình yêu .
Tôi nhớ lại
Nguyễn Huy Tưởng với những Tiểu thuyết “ Sống mãi với Thủ Đô “ và Trong lòng Hà
nội “ ___ tiểu thuyết như một anh hùng ca của thế hệ trẻ cha anh chúng ta ,
những thanh niên thủ đô bất khuất , và như vậy nghĩ về Những người ra đi chiến
đấu từ Thủ đô và được về Thủ đô trong Bộ đội Việt Nam đã nối gót được người xưa
nhưng trên khắp mọi chiến trường dọc theo mảnh đất việt Nam dài và hẹp với dải
Trường Sơn trùng điệp hàng ngàn cây số từng đoạn uồn mình quanh sát biển Việt
Nam cũng làm nên nhiều huyền thoại trên rừng dưới biển .
Tôi về Thủ Đô từ khi là một Binh nhất Hải quân
và rồi sau mấy năm là Trung sỹ Hải quân với những lớp học ngắn ngày cả về Văn
hóa ,cả về thể thao, cả về kỹ thuật vài tháng , cả trong hòa bình , cả trong
chiến tranh .Hà nội gần 10 năm trong nhiệm vụ Sỹ quan kỹ sư kỹ thuật quân sự
thì những kỷ niệm ký ức về công việc , bạn bè không phai cho dù năm tháng đã
thay màu sắc : chiến tranh , hòa bình . kinh tế , quân sự trong một thời đại
nào cũng thế mà thôi .
Có lẽ ,
tình bạn , tình đồng chí , tình thày trò của chúng tôi trong Khóa đầu của Học viện Kỹ thuật Quân sự hôm nay có
đặc thù riêng không khóa nào , trường nào , thời nào có ; bởi đó là tình đồng
chí từ khắp miền Bắc trong 3 quân chủng khoác ba lô rời vị trí chiến đấu tập luyện
về trường trong niềm tin của Bộ quốc phòng
và đồng đội cùng nhau cùng một tuổi thanh xuân đầy ước mơ hoài bão cống
hiến cho đất nước đang hừng hực khí thế cách mạng của nửa sau thế kỷ thứ 20 , tình cảm đồng đội , bạn bè bắt nguồn từ
những người lính không có gì ngoài tình
yêu và ước vọng , cho nên vô tư đến ngây thơ trước cuộc sống đời thường .
Những năm cuối
của khóa học tốp cùng tiểu đội tôi ở Vĩnh yên
có “ Ngô Ngọc Vĩnh , Nguyễn Ánh Sáng và Nguyễn Văn Đáo ; tình đồng đội
trong những năm đèn sách còn theo tôi trong những năm sống trong lòng Hà Nội.
Chuyện xem ra
chẳng có gì đáng kể , nhưng tôi nghĩ đó là những mẩu đới mất mát và thiệt thòi
trong một đất nước như nước ta và với người lính , người sỹ quan quân đội như
một hy sinh thầm lặng mà có chiến công cũng dựng lên trên những đau khổ nơi hậu
phương trên tay người vợ hiền và bé thơ ..
Khi ra trường
và trước khi đi B , Vĩnh cưới Dương Vân Kim con gái thứ trưởng Dương Bạch Liên
tôi không dự và cũng không hay , chỉ biết họ yêu nhau khi tôi và Vĩnh cùng đóng
quân ở Văn Tiến , trong một cái buồng đầu trái chỉ vừa đủ cho 2 phản cá nhân
tôi và Vĩnh để cùng nhau đèn sách , có khi cùng về Hà nội và chúng tôi qua nhà
Vân Kim ở 67 Nguyễn Thái Học .
Năm 1971 hoặc đầu 1972 gì đó . Kim sinh con trai đầu lòng
khi Vĩnh đang trong chiến trường Nam bộ , tôi không biết ở đâu . Một
chủ nhật tôi đến thăm Kim và bé con Vĩnh thì thật mừng vì bé giống Vĩnh hơn một
tượng do một nghệ sỹ ưu tú tạc cho .
Tưởng như sẽ
là tốt đẹp và hạnh phúc với một cháu ngoại của một Thứ trưởng thứ nhất ; nhưng
thực tế phũ phàng đã đảo ngược niềm hạnh phúc kia .
Chừng hơn 4
tháng sau cũng một ngày chủ nhật tôi ghé qua 67 Nguyễn Thái Học để thăm Bé con
Vĩnh ; nhưng thật không ngờ , chỉ vì thiếu sữa mẹ , phải dung sữa bò cho ăn
ngoài , nhưng sự vô trách nhiệm của bảo mẫu nhà trẻ , vì khi đó Kim phải đi làm
trong xí nghiệp Ô-Tô 1 . 5 Hà Nội . Bé bị đi ỉa mất nước và lìa khỏi cõi trần
trong khi người thân sinh xa biền biệt nơi quân ngũ .
Nhưng số
phận con người còn nghiệt ngã hơn.
Hà nội .
Một sáng đầu
tuần trước khi đến giờ làm việc , chúng tôi ngồi chuyện phiếm ,uống trà bốn hào
rưỡi – chè nước văn phòng thuở ấy ; nói chuyện về bạn bè tôi , Đào Kim Chi Kỹ
sư ô tô bách khoa khóa 7 , nhân vì nhắc đến hôm tôi đến thăm nhà Vĩnh - Kim khi
đã chuyển về Lê Phụng Hiểu – Hà Nội , Chi nói : Cháu nội Ngộ chết rồi còn đâu !
, Chi biết , vì Chi không ở trong doanh trại cơ quan mà vì được ở tại gia với
bố là Vụ Trưởng ở bộ Tài chính cùng bộ mà bố Vĩnh là VụTrưởng . Nghe tin ấy tôi bán tín bán nghi , ngay sau
đó , chủ nhật nghỉ , tôi đến Lê Phụng Hiểu và Kim nói rằng cháu cũng bị mất
nước và bỏ đi . Thật bất ngờ , vài tháng
trước đó tôi đến chơi Bé đã đâu 1 năm tuổi trắng và đẹp . Lòng tôi bấy giờ nhe se lại nhất là trong tôi
thường nghĩ cháu ngoại thứ trơngr , cháu nội Vụ trưởng mà sao đên đủi ! ? rồi
tf đấy tôi không tin tưởng vào Bệnh \viện sinponne –Pháp trên đất thủ đô .
Trước khi
về ở Lê Phụng Hiểu ,Tôi có đến chơi với Vĩnh ở Nguyễn Thái Học khi vừa ở đơn vị
xa về Hà Nội ; từ đó đến nay chúng tôi bặt tin do tôi ít có dịp đi ra phố Hà Nội
mà tập trung làm việc trong cơ quan và ngày nghỉ lại phải đạp xe về Nam Định
thăm nom vợ con và mẹ già , rồi tồi về Nam
Định khi mấy cơ quan bộ Ngoại thương và Ty Lao động Hà nội không chắc cho cả vợ
con tôi về Hà Nội và rồi về hẳn Nam Định sau khi Tổng cục kỹ thuật xem xét và
đồng ý cho chuyển ngành sau khi hai anh điều phối Cán bộ đồng cấp với tôi ,
một phụ trách cán bộ khu vực Hà Nội ,
một phụ trách Cán bộ Khoa học kỹ thuật , thuyết phục tôi không chuyển ngành ,
Tôi thấy trong việc điều động đi nơi khác là một điều động đầy tính cá nhân, tiêu cực chất đầy nên
dự tính xin về nơi khác Tổng cục kỹ
thuật , nhưng rồi tôi có quyết định của Tổng cục – Ban chính sách đồng ý , tôi về hẳn Nam Định sau hơn 4 năm
đeo quân hàm trung úy ở Hà Nội .
. TRONG 12 NGÀY ĐÊM
HÀ NỘI DƯỚI
BOM MỸ
Cuộc chiến
tranh phá hoại Miền Bắc Việt Nam của Mỹ đang ở gian đoạn ác liệt nhất thì chúng
tôi trong trường , khi tốt nghiệp , có thời gian bọn mỹ buộc phải tuyên bố “ném
bom hạn chế “ bởi vì càng dùng nhiều phi cơ pháo đạn dội xuống miền Bắc càng
thiệt hại gấp bội mà không khuất phục nổi Việt Nam ta , còn bị thế giới lên án
. trong thời gian Mỹ ném bom hạn chế trên
một số tuyến đường phia bắc vào Nam
Đoàn quân của các kỹ sư quân sự khóa 1 như Lê Tùng Sơn đã viết : dong cờ
sao vàng trên nền xanh đỏ tranh thủ đi ngày đi đêm vào sâu trong chiến trường
Đông Nam Bộ , còn trong lòng Thủ đô Hà Nội nhân dân yên ổn và tranh thủ những
ngày hòa bình để sản xuất và xây dựng kinh tế , Đường phố tương đối thanh bình
và Tôi tranh thủ tối đa thời gian để học thêm , đọc thêm các giáo trình Đại học
phục vụ cho nhiệm vụ thiết kế , cũng như học tại chức Tiếng Anh trong trường
Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội , đồng thời học lại phần đầu phát âm tiếng
Pháp đã học từ thời Pháp thuộc và ngay sau hòa bình 1954 ở Nam Định . Công tác
, học tập bấy giờ tuy vất vả , hiếm thời
gian nhưng là niềm đam mê của chúng tôi trong lòng Hà Nội .
Nhưng chẳng
bao lâu . Tháng 12 năm 1972 , thua trên chiến trường Nam Việt , Mỹ dùng Máy bay
chiến lược B52 ném bom tàn phá Thủ Đô , Mỹ nhằm mục tiêu san bằng thủ đô Hà Nội
để giành thế thắng trong hội nghị Paris họp giữa Mỹ và 2 ngoại giao đoàn Bắc
Nam , nhưng thực tế đã đảo ngược mong muốn của Mỹ .Tôi không nhớ trong ngày thứ
mấy của 12 ngày đêm Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống .
Hôm đó khoảng
đêm về sáng , còi áo động của Thành phố rúc một hồi dài báo động Máy bay bay
bào ném bom Hà Nội . Tôi đang ngủ trong phòng vừa làm việc vừa ngủ của bộ phận
\quân lực Phòng tổ chức kế hoach cục , bên ven Hồ Tây , nghe còi tôi chạy vào
hầm để ngồi ngủ tiếp , hầm chữ A bằng tre
phủ dầy lớp đất . Hầm tôi trú được 3 người ngay đầu hồi ngoài sân . Lúc đầu
chúng tôi nghĩ Bọn Mỹ sẽ không ném xuống rìa Hồ Tây nơi cơ quan Cục tôi , nên tôi buồn ngủ ngồi
trong hầm ngủ gật , còn một số đồng chí ngó xem pháo và Tên lửa của ta bắn rực
đỏ bầu trồ Thăng Long .
Thình lình ,
tôi hoàn toàn vô cảm trong phần giây như mình không có trên đời , phần giây sau
đó tôi bừng tỉnh và thấy trước mặt tôi là hai đồng chí đạp nhau nằm trên vũng
máu , một người cạnh tôi máu chảy tứ đầu xuống vai ; thế là hầm tôi trú ẩn dính
Tên lửa CỦA PHI CƠ MỸ . ngay lúc đó cũng
vừa khoảnh khắc im tiếng bom đạn , tuy chưa báo yên ; tôi nhảy ra khỏi hầm kêu
cấp cứu , nhưng sân cơ quan lặng ngắt như bãi chiến trường . , dăm phút sau
chúng tôi goi xe con đưa đồng chí bị trọng ythương vào Quân y viện 108 cấp cứu
. Tôi dục lái xe và vài đồng chí đi theo , cùng tôi vừa đi vừa cầm máu để nhanh
chóng vào Viện . May thay người trọng thương cứu được , chỉ phải lấy đi một con
mắt và bó vỡ một bên vai . còn tôi hoàn toàn không dính mảnh nào .
.
Trời sáng ,
chúng tôi dọn dẹp và tôi xem thấy ngay sau lưng chỗ tôi ngồi chỉ còn không đầy
2cm đất nữa là sập hoàn toàn ngay sau lưng tôi ., còn những mảnh vuông như hạt
ngô cắn đầy gáy sách của tôi nơi đầu giường và màn chăn thủng lỗ chỗ khắp nơi .
Qua lần hầm
tôi bị đạn từ đâu đó trong trận khống
kích của Mỹ đợt bắn phà bằng đạn bom tọa độ tức là theo tọa độ mà cường kích
không kể mục tiêu dưới mặt đất , tôi cẩm nhận được một phần giây đồng hồ . Và ,
một Đồng chí Đảng viên , cùng chi bội –Thượng sỹ , thương binh ¾ bấy giờ từ
chiến trường miền Nam về Cục làm thống kê quân lực chết ngay trên đất thủ đô
ngỡ đâu là “sống thọ” Tôi thầm nghĩ ; Thật đau sót , trên chiến trường máu lửa
không chết , về Thủ đô chết để lại người vợ trẻ và hai con thơ dại nơi quê nhà
cách Hà Nội chừng 40 ki-lô-mét . __ Ứng Hòa Hà Tây . Chiến tranh mà !
Sau hôm bị bom các Phòng đều ăn ở và làm
việc trong hầm chữ A rải rác , , khi bom
B52 dữ dội , chúng tiôi phải trú ẩn
trong hầm Bêtông đã xây trước đó ; nhưng
an toàn tính mạng vẫn không tuyệt đối mà ngược lại Tiếng máy bay , bom đạn nổ
còn lộng óc khi ngồi trong hầm Bê Tông khó chịu nổi .
Sau một tuần
lễ đánh phá của B52 , chúng tôi có lệnh , những Cán bộ không cần giải quyết
công việc thường nhật cấp phát vật tư hoặc kế hoạch quân lực thì đi sơ tán
xuỗng các cơ sở ,đồng thời giúp cơ sở trong công việc hàng ngày .
Tôi được
phái đến sơ tán ở nhà máy T-606 năm trước tôi đã được cục biệt phái xây dựng ở
đó và giúp đớ phòng kỹ thuật và giám đốc trong những khó khăn , vướng mắc về kỹ
thuật .
Nhưng cũng
nơi đây chẳng mấy an toàn vì theo đường chim bay thí cách bến Phà Khuyến Lương
không xa là mấy , tôi ẩn trong hầm đất còn nhân dân sợ hãi , họ bỏ chạy hết ra
hầm trú ẩn ngoài cánh đồng .
Những ngày
bom B52 hà nội tôi không có tin tức gì về các cuộc ném bom của Mỹ ; nhưng nhờ
chiếc Radio tự lắp gì đó của chủ nhà nơi
tôi ở sơ tán nên ngay sau khi kết thúc ném bom và tuyên bố chấm dứt hoàn toàn
ném bom miền Bắc là tôi lên xe đạp về Cơ quan Cục .
. Sau những ngày Hiệp định đình chiến, Paris được ký kết tôi lại
tiếp tục về Trường Đại học Sư phạm ngoại
ngữ Hà nội để học tiếp năm thứ 4 đại học anh văn tại chức và lớp tiếng Pháp của
Hà Nội .
Sau giải phóng miền nam 30/4/1975 xong xây
dựng khu B – của T B T Lê Duẩn Tôi chuyến sang phòng Quản lý kho và làm nhiệm
vụ quy hoạch và quản lý kỹ thuật các kho thuộc Cục cũng như thiết kế các phương
tiện bốc dỡ trong kho theo mục tiêu giảm bớt sức lao động chân tay và giảm lao
động trong kho cùn với việc nghiên cứu quản lý vật tư theo mã hóa .
.
Cho nên tôi hay
phải đi công tác xuống các kho và đoàn vận tải , bởi thế việc học ngoại ngữ
không bảo đảm thường xuyên và ngày thi lấy bằng đại học tôi không có mằt ở Hà
Nội .
Những năm
công tác và làm việc ở Hà Nội tôi chỉ
gặp lại dăm bạn đồng đội thân thiết trên phố thủ đô , rồi dần không gặp được .
Vả chăng , những ngày sống trong lòng Hà Nội vì bận rộn với việc thiết kế thi
công và học , đọc sách , lại còn đạp xe về Nam Định nên liênlạc của tôi với
đồng đội khóa một dần mất .
Tôi còn nhớ
, ngày 30/4 1975 buổi tối , tôi cùng bạn đồng cấp cùng phòng bên Kế hoạch Trung úy Khúc Anh
Phẩm người vừa về phòng tôi sau khi ở chiến trường miền nam ra, cùng nhau đạp
xe vòng quanh phố phường Hà Nội , trong long sướng vui khôn xiết ./
Nói là những kỷ
niệm và dấu ấn lịch sử thì riêng tôi chẳng có gì mà chỉ viết lại để nhớ về một
thời sỹ quan kỹ thuật trong lòng Hà Nội , may mà không đổ máu chỉ toàn là mồ
hôi và nước mắt với lòng say mê : sống, học tập , và phục vụ Quân đội nhân dân
Việt Nam mà tôi đã xác định – suốt đời khi đã là một học viên khóa đầu tiên của
học Viện K T Q S hôm nay từ khi rời quân chủng Hải quân từ ven bờ Hạ Long về trường đại học /
Mẩu chuyện bên lề
Mùa hè , kỳ nghỉ hết
học kỳ là mùa nghỉ ngơi của sinh
viên các trường Đại học , nhưng chúng tôi , những học viên trường đại học kỹ
thuật quân sự hầu như không được nghỉ , cũng chỉ như là những ngày sau chiến dịch
mà thôi . Bởi vậy , hầu hết đều được bố
trí đi lao động ,hoặc là lo cho cơ sở vật chất năm học tiếp theo , hoặc dã ngoại đi giúp nhân dân , cũng có thể đi phục vụ ở các đơn vị bảo vệ
miền Bắc trên các trận địa ; chúng tôi có số ít được lưu lại ở nhà để thực tập
gọi là “nghiên cứu “ .
Xóm làng yên tĩnh
, đồng đội đi lao động , dã ngoại đâu đó , chừng dăm bảy người chúng tôi được bộ
môn Sức Bền Vật liệu , bấy giờ do Trung uý -- Giảng viên tổ trưởng bộ môn sức bền
vật liệu __ Nguyễn Khoa Thịnh tập họp để
hướng dẫn học, kết hợp với nghiên cứu về một số vấn đề trong Sức bên vật liệi
như : ứng suất trong các ống dầy và các bình vỏ mỏng cũng như trạng thái ứng suất
khối , chúng là những vấn đề không có trong chương trình đại học của bất kỳ trường
đại học nào lúc bấy giờ . Tôi chỉ còn nhớ , hình như trong nhóm gọi là nghiên cứu
đó có Lê Kinh Tuyến , Nguyễn Đình Thắng , Nguyễn Đình Năng , Lê Công Sơn ,…(
sau này chúng tôi được phân công học ngành Đạn , Ô tô- tăng xích và Trạm nguồn điện
) được chỉ định và mỗi người một đề tài khác nhau và có cũng chỉ những phần mở đầu cho một đề tài
nghiên cứu hoàn thiện mà thôi , nhưng nó đòi hỏi phải tập trung tư tưởng và trí
tuệ, học thêm cái gọi là “vạn sự khởi đầu nan “ mà “vạn sự khởi đầu nan “ thì
chính Kar-Mark cũng phải thừa nhận như trong những lời đầu của cuốn “TƯ BẢN “ của
Ông , có thể không là nan giải .
Bắt đầu tôi được
phân công chứng minh Biểu thức toán học cuối cùng của Trạng thái Ưng suất khối
biểu diễn trên Vòng tròn MORH mà mhư anh Thịnh nói : không có cuốn sách hoặc tài
liệu nào có trong tay đã chứng minh nó .( trong chương trình học , chúng tôi cũng
không học và không có bài tập về trạng thái ứng suất này , trên một số giáo trình
sức bền cũng không đề cập đền nó và hầu hết các sáh bài tập cũng không có bài tập
về nó , tôi về Hà nội chỉ tìm được ở hiệu sách khoa học kỹ thuật một cuốn bài tập
sức bền bằng tiếng Nga có Viết Biểu thức Toán cho trạng thái ứng đó để làm bài
tập mà thôi .
Bấy giờ , quần
áo mùa hè của chúng tôi không được đẹp như hôm nay mà nó xuyềnh xoàng đến nhọ
nhem , bởi đúng lúc quân đội ta gặp khó khăn nhất trong quân nhu , hậu cần , nhất
là lại không đeo quân hàm học viên khi về Hà Nội dưới trời hè của Thủ đô .
Chúng tôi , quân
phục không quân hàm đội mũ không có quân hiệu như những anh nhà quê ra tỉnh
.
Tôi và Lê Kinh
Tuyến vào hiệu sách Ngoại văn khoa học kỹ
thuật mà trên quầy sách , các tầng sách hầu như chỉ có Sách tiếng Nga , Tôi chỉ
và nói cô bán sách cũng còn trẻ như chúng tôi lấy một quyển trên tầng giá sách có bìa cứng và dày ; Cô ấy bảo
chúng tôi :
__ Quyển ấy
nhiều chữ lắm đấy các anh ạ !
Tuyến vốn là một
tay mà tôi thường vui coi như con cháu của Đại văn hào hài ,viết truyện cho
thanh thiếu niên và nhi đồng --Truyện “trẻ con “ _An-Đec-Xen , Tuyến bèn chỉ
tay vaò một cuốn sách trước mặt có mấy chữ cái và nói :
__Vậy thì cho
tôi xem quyển sách có thật đại to kia kìa
.
Cô hàng sách lẳng
lặng không nói gì nữa mà với tay lấy cho chúng tôi cuốn sách tiếng /nga muốn
xem hoặc mua .
Đi trên ngã tư
Tràng Tiền hai chúng tôi cuòi vui vì câu nói hài mà xúc tích của Tuyến .
Trong nhưng ngày vừa học vừa nghiên cứu ngắn ngủi sau chính khoá , dưới
trời bom đnj miền trung và Nam bộ, bấy giờ , giữa những lúc nghỉ khi Anh Thịnh
xuốn chỗ chúng tôi tập trung học , ngồi giải lao trò chuyện thân tình như những
an hem , đồng chí đi trước ; Anh Thịnh nói chuyện với chúng tôi về “Tính Đối xứng”
trong khoa học , và tôi nhớ mãi chuyện
anh kể :
đại ý là ; có
một lần , một nhà khoa học nghiên cứu về Nguyên tử và Năng lượng Nguyên tử sang
làm việc với các nhà khoa học V. N trong lĩnh vực nay , nói chuyện ngoài lề và
hỏi nhà khoa học của ta((hình như ông Nguyễn ĐiìnhTứ)) đang nghiên cứu về tính đối
xứng ;
bỗng nhiên
Nhà khoa học Mỹ hỏi :
__Ông là người nghiên cứu về “Đối xứng “
Ông thấy thế nào về sự đối xứng khi mỹ xuống thang
trong ném phá hoại miền Bắc mà miền Bắc không rút quân khỏi miền Nam
???
Nhà khoa học của
ta trả lời :
__Ông cũng là
người nghiên cứu về đối xứng , tôi cũng
là người nghiên cứu về đối xứng, vậy hẳn ông biết rõ ; Tiền đề không đối xứng,
thì kết quả cũng không thể đối xứng .
Và nhà khoa học
Mỹ không thể nói gì thêm ! ?
Mãi sau này
khi đã nghỉ hưu lâu lắm , xem trên truyền hình VTV tôi mới biết giám đốc hoc viện
kỹ thuật quân sự V N là Tướng Nguyễn
Khoa Thinh năm nào , khi đó anh đã béo hơn hồi còn Trung uý .
Có lẽ như anh Nghiêm Sỹ Chúng nói đúng : chuyện vụn vặt nhưng không quên
và gợi lại một thời đáng nhớ .
Sunday, April 21, 2013
Nộ Dung các
bài viết
Soạn thảo văn bản : Đỗ Đăng Đích
L ê T ùng
S ơ n g ửi bài iết qua Email
Sunday, April 21, 2013
The Printed proce ded
prc es by Đ ỗ Đ ăng Đ ích
L Ê
T ÙNG S ƠN ---
Đ Ô Đ ĂNG Đ ÍCH
Hồi
ký .
Học
Viện Kỹ Thuật Quân Sự V.N
KHÓA
I _C213Lê Tùng Sơn -Đỗ Đăng Đích
Nộ Dung các
bài viết
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét