CỰU HỌC VIÊN
KHÓA THỨ NHẤT C 213
Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập học viện
HANOI 2015
LỜI GIỚI THIỆU
Tập hồi ký này được
biên soạn với tư cách tập hợp nhiều tập hồi ký khác nhau của cácđồng đội __ Kỹ
sư quân sự V.N – Cựu /sỹ quan Trung cao cấp và Tướng .
Những trang hổi ký
rải rác của người viết nhằm lưu lại những gì đáng nhớ mà mình đã đi qua , bởi vậy
không theo lo-gic thờivgian . Các bài hồi ký được sắp xếp và bổ sung chọn dần
theo những bài đã nhận được qua Mai __
mạng Internet . sự saqps xếp mang tính thay đổi các nội dung đan xen nhau ,
không mang tính phân biệt cấp bậc ,cũng không mang tính chất ý nghĩa văn học .
Nười tập hợp biên soạn
Đỗ Đăng Đích
B6- C 213 Khóa 1
học viện kỹ thuậtQuân Sự V.N
HỒI
KÝ
Nghiêm Sỹ Chúng
Nguễn Thanh Sơn , Lê Tùng Sơn
Đỗ Thành Hưng , Đỗ Đăng
Đích
Sau thư của Thiếu Tướng Nghiêm Sỹ Chúng gửi các đồng
đội C213 Khóa 1 Học viện Kỹ thuật Quặn V.N về việc viết hồi ký cho kỷ niệm 50 năm
thành lập học viện là cuộc họp mặt thường niên ngày 4 Tháng 1 năm 2015 tại Bảo Tàng Phòng
không –Không quân V.N __ HÀ NỘI ;
cuộc họp mặt này tuy không tổ chức hoành tráng như mong muốn của một
vài Đại Tá Đồng đội mà diễn ra như Nghiêm Sỹ Chúng nói: Là cuộc họp rất thân mật , đã là bạn
đồng liêu dù thầy trò , Cán bộ quản lý , Lãnh đạo , nhưng vì một
khóa rất đặc biệt ,cho nên chỉ cần có lời mời qua Điện thoại và
điện đàm hoạc qua mạng Internet là đồng đội từ 3 miền của tổ quốc
về hàn huyên gặp gỡ nhau vô cùng thân
mật không kể Tướng lĩnh hay cán bộ cao cấp , trung đại tá hoặc
Các cán bộ từng là Quân y, Bảo đảm của C 213 – Khóa thứ nhất năm
xưa --- Đã Gần 50 năm trôi qua kể
từ ngày đầu tiên mang ba lô vuông về Hà Nội để thành lập Trường .
Tất cả , mỗi
người một khác nhau trên con đường Binh Nghiệp __ Kỹ Sư quân Sự V.N -- Những Đảng Viên ưu tú của Đảng Lao
Động Việt Nam đã đi hết , đi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cho
đến ngày toàn thắng __ thống nhất đất nước và tiếp tục trên đường
xây dựng Khoa học Kỹ thuật quân sự V.N còn non nớt cũng như trên lĩnh
vực Khoa Học Kỹ Thuật trong khi Kinh tế đất nước gặp rất nhiều khó
khăn về mọi mặt .
Tập Hồi ký này chỉ là một phần nhỏ như một khoảnh
khắc cuộc đời người lính , mà họ
là những anh Bộ đội Cụ Hồ trong sáng , trẻ trung một lòng vì đất
nước quê hương và nối tiếp Truyền
thống gia đình Cách mạng ,
gia đình trí thức giàu lòng yêu nước và tài hoa , chân chính .___
Những mẩu chuyện dọc cuộc chiến tranh trên hai miền Nam Bắc : chiến trường và Thủ đô Hà Nội trong
kháng chiến và trong hòa bình
NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN
Thay lời đầu và lời tác giả
Cho toàn tập hồi ký
HÀ NỘI 2 013
Lời nói đầu và lời tác giả .
Mỗi người chúng ta sống trên mảnh đất việt nam mà mảnh đất này__ một dòng Hồng
Hà xuyên dọc nửa phần đất nước với một dòng Mê-Kông đổ ra Biển Đông bằng chín
dòng sông xanh trong mà người xưa đã đưa lại cho tên gọi hôm nay –Cửu Long
Giang . Mỗi người và từng người sống qua một thời nghèo nàn , cực khổ và oanh
liệt qua mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc Việt Nam , một dân tộc với Văn minh
Đồng bằng Sông Hồng ___ Cái nôi của loài người còn nguyên vẹn rừng nguyên sinh
Cúc Phương với Động Người xưa trên lưng chừng vách núi Cúc Phương ; Đi qua trọn
vẹn cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc V.N và những năm xây dựng tổ
quốc ta trong hòa bình đều là những thiên tiểu thuyết cuộc đời con người mà
những tác phẩm văn học chỉ thể hiện được từng nét, từng nét , mà rất khó có thể
có một tác phẩm văn học nào lớn đủ cho nó .
Bởi vậy những đoạn hồi ký của người ta tưởng như phi văn học , và của cá nhân
ai đó ngỡ là không mấy giá trị , chỉ là của cá thể ai đó thôi , không , đó là
những viên gạch đã được nung chín từ nắm đất sông Hồng để xây lên thành những
tòa biệt thự văn học , những dãy nhà bảo tàng lịch sử dân tộc qua từng thời kỳ
và giai đoạn lịch sử Việt Nam .
Năm 2012 , cuối năm , sau một vòng tròn trên không ,dưới đất_ NamĐinh –Hà Nội
–Sài Gòn –Hải Phòng –Hà nội –Nam Định, liên lạc với đồng đội –học viên Trường
Đại học kỹ thuật quân sự Việt Nam Khóa thứ nhất –C213 tôi được nối lại sau
nhiều năm không biết và cũng không ai biết tôi trôi nổi về đâu sau khi rời Quân
đội từ hàng ngũ Sỹ Quan kỹ thuật Thủ đô về nơi chôn rau cắt rốn của mình .
Viết hồi ký này , có lẽ bắt nguồn từ ý tưởng củaTướng Nghiêm Sỹ Chúng . .
Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu Tướng _Tổng cục Kỹ thuật Quân Đội Nhân Dân Việt
Nam .
Gửi thư cho đồng đội vả tôi có được từ Email của Tiến sỹ Đại Tá Lê Kinh Tuyến
Viện Nghiên cứu kỹ thuật quân sự V.,N cũng như vậy từ Tiến Sỹ --Đại Tá Nguyễn
Nước Trường Đại học Kỹ thuật quân sự Trần Đại Nghĩa ( Trường Kỹ thuật Quân sự
Vin –Hem –Pích ) .
Xin chép ra đây toàn văn thư của Nghiêm Sỹ Chúng .
Và , có thể nói đó là điều cảm xúc và viết những trang hồi
ký từ khi về trường Đại học cho tới khi về nghỉ hưu không ai biết đến .
Thư gửi các ban cựu học viên C213 ĐHKTQS
Các bạn thân mến,
Trong những năm gần đây HVKTQS đã phát động những đợt viết hồi ký về nhà trường
và đã xuất bản 2 ấn phẩm là Không gian tình thầy (10-2006) và Mái trường trong
ký ức (10-2011) gồm khoảng 150 bài viết của các thày giáo và học viên của HV
trong suốt 45 năm qua. Nhưng đáng tiếc vì lý do thiếu thông tin nên các học
viên khóa 1 chúng ta tham gia rất ít.
Những chặng đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là
những kỷ niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy
giành một phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn
chúng ta đã đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của
các bạn sẽ tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển
chọn những bài hay để đóng góp cho ấn phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ
niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi chúng ta lâu nữa!
Chúng tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở
trường và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt
là thời kỳ 1971 – 1975.
- Bài viết bao gồm các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ
đó.
- Đề tài tự do, tất cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những
điều riêng tư, vụn vặt nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học
tập, chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy.
- Mỗi người nộp cho một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá
nhân: ngày sinh, địa chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả
mọi người trong C213).
Rất mong nhận được sư hưởng ứng của tất cả anh em chúng ta, Cảm ơn!
TM BLL học viên khóa 1 Nghiêm Sỹ Chúng
Thời gian gửi bài đến hết tháng 12/2013.
Địa chỉ gửi bài : Nghiêm sỹ Chúng, nhà số 16, ngõ 71/14 phố Hoàng Văn Thái,
Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 069562073 – 0973128873 email: ttbinh2@yahoo.com
Hồi Ký __ Năm tháng không quên .
NHỚ VỀ TRƯỜNG X ƯA
Thiếu tướng Nghiêmv Sỹ Chúng


Trung Tướng _ Tiến Sỹ
Khoa Học
Nguyễn Hoa Thịnh
Họp mặt thường niên
2015- January 4 Ảnh Đỗ Đăng Đích
Một
ngày nắng đẹp trên đất Hà Nội
Quả đất hình bầu dục hay tròn hay vuông thì
Chuỗi số vẫn hội tụ .
Cuộc gặp mặt cựu học viên K 1 Học viện Kỹ Thuật
quân sự V.N đã diễn ra rất thân tình và cảm động
giữa các Tướng lĩnh , sỹ quan Trung cao cấp . __ Tiến sỹ , Tiến Sỹ Khoa học ,
Kỹ sư Quân Sự V. N Từng đi tron vẹn cuộc Chiến tranh Giải phóng dân tộc và Vệ
Quốc trong thế kỷ 20 .
Không ai nói về những vinh quang , thành tích huân
huy chương mà bộc bạch cùng nhau những kỷ niệm không phai mờ trong qua trình
trưởng thành từ ngây thơ đến dũng cảm trên con đường khoa học kỹ thuật quân sự
việt nam trong nửa cuối thế kỷ 20 .
Những mái tóc bạc long lanh từ 3 miền của tổ quốc
trở về Hà nội trong một ngày nắng đẹp như báo hiệu những năm tháng còn lại của
đời người là tốt đẹp cùng một Tổ quốc với bao tự hào và thân thiiết như máu
thịt .
Cùng nhau họp mặt , không quên đồng đội đã hy sinh
trên chiến trường và bệnh tật bởi cuộc chiến cực kỳ gian khổ tạo nên .
Đoàn tụ với nhau cả người ruột thịt thân thích của
những người đã khuất , cả những chị em đã một chặng đường dài chiến tranh gằn
bó và lớn lên cùng Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự v. n trong thế kỷ 20 .
Như một Đại gia đình __ Một Tình cảm Đồng đội _
Đồng chí đằm thắm và thiết tha giữa tuổi mà người xưa gọi là " Nhân sinh
thất thập cổ lai hy " .
Những cuộc đời thường Trong sáng ;cho ta một tấm
gương hào hùng đẹp mãi trong lòng người khi gặp gỡ

C ựu sỹ quan Trung cao cấp __KỸ Sư Quân Sự V.N Khóa 1
C 213
Đai Học LÊ Quý ĐÔn
Cựu Sỹ quan Trung – Cao cấp –Kỹ sư
quân sự , Tiến sỹ.
Tiến sỹ Nguyễn Đình Thắng ; Thiếu Tướng
Nguyễn Ngọc Chương .
Chuyện Ký ức Thời gian –
TruyệnHồi ký .
NGUYỄN THANH SƠN
(Đại tá Nguyễn Thanh
Sơn , trong ảnh :Người đội mũ
.)
(Cựu Giảng viên và Học viên C213 khóa 1 học viện K.T.Q.S.V.N)
Ảnh ; Lê Kinh Tuyến – họp mặtthường niên 2015 bảo tàng P.K.K.Q.V.N HANOI
NGUYỄN THANH SƠN
BÂY GIỜ EM Ở ĐÂU.
Cuối chiều
hôm đó tôi với Trọng vừa về tới phố Hàm
Long bỗng nghe tiếng gọi lớn, giật giọng:
- Anh Sơn,
vào đây uống nước đã!
À Hùng, Hùng
"s" đang ngồi cùng mấy cậu bạn tổ điện, mặc đồng phục màu lửa, đỏ rực
cả một góc quán.
Tôi bảo
Trọng:
-Ta vào tý đã.
Hùng giới
thiệu tôi với mấy anh em tổ điện:
-Đây là
a.Sơn, đại đội trưởng của tôi hồi ở Trường Sơn.
Còn tôi thì
giới thiệu với Trọng và có thể cả với mấy anh em còn chưa biết:
-Đây là Hùng,
còn gọi là Hùng "phễu"! Các cậu có biết là tại sao lại có cái tên như
thế không? Là vì thế này, ở Trường Sơn không nói tới bom đạn, tới sốt rét… mà
chỉ riêng sự vất vả mùa khô bụi phủ đầy đầu tóc, anh em ta thì người nhỏ bé, cả
ngày vần cái xe 3 cầu rất mệt. Không phải là không đói, mệt quá, chả thiết ăn
gì. Thấy anh em trệu trạo nhai miếng lương khô mà thương. Còn Hùng, lúc nào
Hùng cũng ăn ngon lành! Cứ ngửa cổ ra nhét hết vào miệng: Thịt hộp, măng rừng,
rau tàu bay...rất hồn nhiên, và vui vẻ. Chính vì thế nên anh em mới trêu là
"phễu" và bây giờ mới to khoẻ thế chứ.
Chúng tôi
cùng cười...Nào, xin mời!
Đột ngột Hùng
hỏi tôi:
-Thế anh đã
tìm thấy em Lương chưa?
-Chưa thấy.
Mọi con mắt
đều đổ dồn vào tôi, như sắp được nghe một câu chuyện tình mùi mẫn ở chiến
trường. Trọng cũng có vẻ để ý, tôi với Trọng chơi với nhau từ nhỏ không dấu
nhau điều gì, hơn nữa Trọng rất thân với...vợ tôi.
Hùng hỏi:
- Sao anh
không nhờ chị em Trưng Trắc họ tìm cho?
-Nhờ rồi,
không thấy.
Tôi lại phải
giải thích: Năm 1971, tỉnh Hà Tây có tổ chức một tiểu đoàn toàn nữ gọi là tiểu
đoàn Trưng Trắc, hơn 600 chị em đi vào chiến trường, phần lớn ở sư đoàn tôi.
Tuổi trẻ 17,18 tuổi cô nào cũng khoẻ đẹp cả. Con gái mà vào chiến trường thì
gian khổ lắm, vất vả lắm, hơn con trai bội phần. Cô thì nuôi quân, cô thì y tá,
cô thì bốc hàng ở kho. Các cậu có biết không, như cô Yên bốc hàng ở kho KĐ1 có
ngày bốc tới 22 tấn hàng!
Song phải nói
là ngày đó rất nghiêm túc, không phải những chuyện trai gái giữa rừng như đám
trẻ bây giờ tưởng tượng đâu...
Câu hỏi của
Hùng làm cho tôi nhớ lại một kỷ niệm:
Cuối năm 1971
sau hơn 1 tháng đi bộ, tôi về được đến đúng cái đại đội mà tôi được cử vào công
tác, đó là đại đội sửa chữa tiểu đoàn 102 binh trạm 32. Cậu Quang y tá dẫn tôi
đi men rừng, vượt qua bãi bom B52 dài hơn 9 km thì về tới đơn vị, có nghĩa là
về đúng cái nhà cuối cùng của mình. Người nhà đầu tiên mà tôi gặp, lại là một
cô gái, chính là cái cô Lương mà Hùng vừa hỏi tôi đó. Không phải là Lương ra
đón tôi, mà là cô ấy đang rửa rau ở suối, thấy tôi cô ấy e lệ gật đầu chào. Như
Quang kể thì mọi người đều đã biết tôi về, một kỹ sư trẻ tuổi, đẹp trai...Song
tôi chả để ý gì cả, chỉ cảm thấy cô ấy như cái ảnh cô dân quân trong buổi duyệt
binh ngày nào, áo nâu căng lẳn, khoác súng trường, khuôn mặt tươi sáng...Khác
với tưởng tượng của tôi, không phải là tay bắt mặt mừng, mà chỉ có những cái
gật đầu chào lặng lẽ. Lạ, mọi người đều như là đi nhẹ, nói khẽ vậy...(?) Bấy giờ tôi mới biết là anh em trên chòi quan
sát mới báo về là máy bay nó vừa thả hai cây thu phát nhiệt đới xuống khu vực
này, mới tìm được một, còn một đang tìm.
Cây thu phát
nhiệt đới là một loại máy thu phát vô tuyến điện, cực nhạy. Được nguỵ trang
dưới dạng một cành cây, tất cả đều bọc nhựa xanh, dễ lẫn với cây rừng. Tất cả
các tiếng động: Tiếng người cười nói, tiếng chân bước, tiếng máy nổ...nó đều
thu lại và phát về căn cứ, và lập tức máy bay đến ném bom, hèn gì mà tất cả đều
im lặng. Nửa tiếng sau mới tìm thấy, nó mắc trên một cây cổ thụ. Cậu Tuyến xách
ra một khẩu CKC và một... thùng đạn, sau khi bắn một phát xuyên thủng thân cây
thu phát nhiệt đới, để phá hỏng nó. Cậu ta lần lượt bắn đứt ...từng sợi dây dù
cho rơi xuống, để tháo ra lấy bóng bán dẫn lắp đài!
Bấy giờ anh
em mới nói chuyện vui vẻ, và đơn vị tổ chức liên hoan...
Và tờ mờ sáng
hôm sau, tôi được đón tiếp bằng một trận bom B52 ném đúng vào đơn vị này. Đang
ngủ rất say thì tôi bỗng choàng tỉnh vì bom nổ, chát chúa đinh tai nhức óc...
vậy mà tôi cũng lạ, ngồi xổm trên giường khoác chăn, mà tôi cứ nhấp nhổm nhìn
qua khe hở nắp hầm, để xem...bom nổ. Có đến hàng ngàn cái máy hàn đang chớp
sáng...B52 rải thảm bom bi!
(Nhấp nhổm vì vừa tò mò muốn xem lại vừa sợ
một viên bi lọt qua khe hở cắm vào… giữa trán. Sau này bị nhiều, tôi có kinh
nghiệm là: B52 rải thảm bom bi, nếu ở dưới hầm thì 100% là sống, nếu ở trên mặt
đất thì 100% là...chết. Còn B52 rải thảm bom phá thì, lạy chúa...còn xem nó rơi
vào đâu đã!)
Vậy thôi, tôi
chả có kỷ niệm riêng gì về cái cô Lương này cả, và cũng chả bao giờ xuống bếp.
Cả ngày lao động vất vả, nuôi quân cho ăn cái gì thì ăn cái đó, và cũng chả bao
giờ để ý là ăn cái gì. Chỉ riêng có một chuyện là trên thông báo xuống là đơn
vị tôi được cử một người đi học y tá, ban chỉ huy chúng tôi thống nhất là cho Lương
đi, vậy thôi.
Đến cuối
tháng 5, bắt đầu mùa mưa 6 tháng liền - mùa mưa thì hết hoạt động giống như gấu
đi ngủ Đông vậy – các đơn vị đi vào sửa chữa bảo dưỡng xe, căng tăng ni lông
chuyển lên nóc hầm ở - còn tôi lại được
binh trạm giao nhiệm vụ tổ chức một lớp đào tạo thợ, quy mô đại đội. Đào tạo
thợ ở trong chiến trường thì rất khó khăn, đến viên phấn còn khó, nữa là sách
vở. Song chúng tôi rất quyết tâm, tôi và mấy cậu trung cấp kỹ thuật vắt óc ra
mà biên soạn giáo án, còn anh em được cử về học thì háo hức chờ đợi. Ở trong
chiến trường tôi mới thấy hết cái thèm được học của anh em, đang chiến tranh
đang chẳng biết có còn sống hay không, song ai cũng tin là sẽ có một ngày chiến
tranh chấm dứt, họ sẽ trở về nhà. Và lúc đó thì làm gì để sống lại là một câu
hỏi lớn? Được đi học, dù là chỉ đi học y
tá, học thợ để có cái nghề sau này đã là một điều may mắn. Lương cũng vậy.
Khoá đào tạo
thành công rực rỡ, mọi người đang háo hức tổ chức liên hoan để đi nhận một việc
hoàn toàn mới. Thì tôi, "Trung tâm" của lớp học, lăn quay ra sốt rét!
5 cậu học viên, họ chặt một đoạn tre buộc lên cái võng, cáng tôi sang đội điều
trị... Và từng tốp thợ mới, họ sang chào tạm biệt tôi.
Đơn độc, chỉ
còn lại một cái ba lô.
Binh trạm của
tôi được chuyển thể thành trung đoàn xe, và như vậy chúng tôi không còn chỉ
chạy loanh quanh trên đất của binh trạm nữa, giờ đây chúng tôi có thể chạy khắp
chiến trường, khắp Trường Sơn.
Và trung đoàn
xe của tôi cũng không thuộc sư đoàn cũ nữa, chuyển ra đóng ở ngã 3 Lùm Bùm, về
phía bắc khoảng 30 km.
Mới đỡ sốt,
tôi lại đòi ra, để về đơn vị.
Song trước
khi đi bộ ra Lùm Bùm cách 30 km, thì tôi đi ngược lại lên sư đoàn bộ cách đó 9
km, để chào chú Chấn, chú Thiềm, chào Vị…
Lê VănVị cùng
tốp kỹ sư đầu tiên của khoá 1 ĐHQS đi thẳng vào chiến trường với tôi, song Vị
lại nhận nhiệm vụ ở phòng Tham mưu Sư Đoàn. Cứ mỗi lần nghe B52 đánh vào chỗ
tôi, thì Vị lại kêu lên: Phen này thằng Sơn chắc chết. Song gọi điện thoại,
thấy tôi cười khanh khách thì Vị lại kêu: Số mày còn cao!
Chú Lê Khánh
Thiềm, chủ nhiệm hậu cần sư đoàn, có họ hàng xa với tôi. Năm ngoái, khi lên sư
đoàn để trình diện, chú Thiềm đã tìm gặp tôi, chú ấy ngạc nhiên: Sao con ông
Tạo cũng vào đây? Thấy tôi khoẻ mạnh trắng trẻo, chú ấy lắc đầu: Cũng chỉ được
vài tháng thôi (?)
Còn chú
Nguyễn Quốc Chấn, Tham mưu trưởng sư đoàn, lại là trong nhóm bạn thân với anh
Hoàng Xuân Điền - Binh Trạm trưởng 33 - anh con cô con cậu với tôi. Họ còn mấy
người nữa: chú Quách Sỹ Kha, chú Nguyễn Cận, chú Phan Khắc Hy…họ là những người
lính đầu tiên, và cũng là những chỉ huy đầu tiên của trung đoàn Đội Cung thủa
nào. Tôi muốn lên chào họ, là vì giờ đây không còn trong một sư đoàn nữa, biết
đến bao giờ mới gặp.
Thất thểu,
một mình một bóng xuyên rừng già Trường Sơn mùa mưa ( Cũng liều thật, không một tấc sắt phòng thân mà rừng Trường Sơn thì
đầy thú dữ hiểm nguy rình dập, nếu làm sao thì là làm sao?-mất tích không rõ
nguyên nhân!) vượt qua hơn 9 km, vào tới hầm chú Chấn thì tôi đổ vật xuống,
tôi sốt rét trở lại, rất nặng. Làm tội chú Chấn, vội gọi mấy cậu công vụ dìu
tôi sang bệnh xá sư đoàn.
Tôi không ngờ
là tôi lại sốt cao đến như vậy. Tiêm Quy Nin - một loại thuốc dầu chữa sốt rét
- mà tất cả tay, đùi, mông, những chỗ có thể chọc kim vào đều đã bị cứng đơ lại, do dầu không tan. Nếu
cố ấn kim thì cái kim gập khịu xuống, phải đưa thuốc vào ven.
Đầu tôi tóc
lưa thưa, mắt trắng dã, người gầy xác xơ, da thâm tái. Đã vậy lại còn bị đinh
râu! Có một cái nốt như muỗi cắn ở trên môi tôi không biết cố nặn, thế là đinh
râu, môi sưng như con đỉa vắt qua mồm.
Đúng là chiến
tranh và chiến trường. Nó không chỉ là bài hát, câu thơ của các văn nghệ sỹ, mà
nó vô cùng khốc liệt. Mới chỉ một năm trước tốt nghiệp ĐHQS tôi khoẻ đẹp như
một hoàng tử, vậy mà chỉ một năm sau tôi đã như một con mèo hen, yếu đuối, rụt
rè...
Ồ, tôi lại
gặp Vị, cũng nằm bệnh xá. Không những vậy còn gặp Chung, cũng lại nằm bệnh xá.
Nguyễn Duy Chung là kỹ sư ra đa vào trung đoàn cao xạ 591.
3 đứa chúng
tôi dìu nhau ra suối tắm, thật khốn khổ nước suối chỉ tới đầu gối, chảy chậm.
Vậy mà 3 chúng tôi phải nắm chặt tay nhau, dò dẫm bước trên những tảng đá, cứ
như là buông tay nhau ra thì bị suối cuốn mất tăm mất tích?
Và, tôi lại
gặp Lương! Té ra Lương được cử đi học y tá là học ngay ở bệnh xá sư đoàn. Tôi
ngạc nhiên một thì gặp tôi, Lương ngạc nhiên mười.
Tôi không
hiểu là cô ấy nghĩ gì, song một điều chắc chắn là cô ấy không tưởng tượng được
là tôi lại sa sút đến như vậy. Mới ngày nào gặp tôi bên bờ suối, tôi là chỉ huy
lại trẻ trung phong độ, vậy mà... Liệu cô ấy có thương hại tôi không?
Tôi ít tiếp
xúc với con gái, cũng dễ hiểu thôi, vì từ 17 tuổi đến nay đi bộ đội, mà môi
trường bộ đội thì rất ít con gái. Thêm nữa tôi lại không bạo dạn, làm việc thì
tôi rất sôi nổi song tôi hay nghĩ, tôi sống nội tâm và vì vậy tôi rất sợ con
gái...nói nhiều.
Sau khi tròn
xoe mắt nhìn tôi một cách kinh ngạc, thì cô ấy không nói gì nữa, song cô ấy
quan tâm và chăm sóc tôi đặc biệt. Nếu rỗi thì cô ấy lại chạy sang lán bệnh
nhân của tôi, cô ấy pha nước bột cam cho tôi, và ngồi cuối giường chẳng nói
chẳng rằng phe phẩy cái quạt... Tôi xa nhà, trong cảnh ốm đau mà tôi như có một
cô em gái đang chăm sóc mình.
Tôi lúc đó 24
tuổi, cái tuổi bao ước mơ khát vọng, bao nỗi riêng tư...song có lẽ tôi đã rất
già, vì tôi rất khô. Cũng có lẽ vì tôi đã trở thành một con chiên rất ngoan
đạo, giống như một chú tiểu đã xuống tóc đi tu...cần xa lánh trần tục.
Cô ấy ngồi
cuối giường phe phẩy cái quạt, vừa quạt vừa đọc một cái gì đó.
Tôi nhìn thấy
khe hở nơi cúc áo, một phần thịt trắng nõn nà, lại trăng trắng của dải
cócxê...Xấu hổ quá, tôi ngoảnh nằm sang hướng khác.
Buổi tối cô
ấy lại xuống, anh đã ăn được chưa, em tìm sữa pha cho anh nhé?
Đúng là sốt
rét cuối mùa mưa, lán bệnh của tôi chật ních người, buổi tối chỉ có ngọn đèn
dầu leo lét. Háo, tôi thèm một miếng cam Vinh. Hôm hành quân vào, chờ ở trạm
giao liên Hưng Dũng tôi, Quý Quyết, Công Sơn mua liền nửa gánh cam Vinh giá 3
hào rưỡi/1kg, ăn kỳ hết thì thôi giờ thèm quá.
Tôi bị sốt
rét rất nặng, song không ở thể rét, chưa bao giờ tôi bị rét run cầm cập cả. Mà
ở thể nóng, sốt cao nóng hầm hập, toàn thân đau nhức rã rời uể oải.
Cô ấy lại
xuống, để em bỏ màn cho anh nhé? Cô ấy cẩn thận dắt mấy góc màn. Tôi bảo đang
sốt rét, trong người đầy vi trùng rồi, chả phải phòng muỗi đốt nữa đâu.
Cô ấy nhoài
qua người tôi để dắt màn góc bên trong. Ối trời ơi, ngực cô ấy sát ngay trên
mặt tôi! Tôi cảm thấy như hai bầu vú to, căng mẩy như hai quả cam đang treo
ngay trên mắt mình. Và tôi như ngửi thấy mùi thơm, mùi thơm toát ra từ thân thể
của một người con gái trẻ trung, căng tràn sức sống, phồn thực. Nói tôi cảm
thấy, là vì tôi đã... nhắm tịt mắt lại rồi.
Sau lớp học
bị sốt rét, tôi vào đội điều trị binh trạm, chưa khỏi tôi đã về. Lại nằm bệnh
xá sư đoàn, cũng lại đã 10 ngày rồi. Đã lại bắt đầu mùa khô, sốt ruột quá trung
đoàn xe của tôi đang gấp rút bước vào mùa vận chuyển mới, tôi lại đòi về...
Buổi tôi về
tôi không gặp lại Lương, cô ấy đang thực hành băng bó.
Sau khi học
xong lớp y tá cô ấy được điều về trung đoàn công binh, và từ đó đến nay đã 35
năm rồi tôi không gặp cô ấy, không rõ gia cảnh em thế nào, bây giờ em ở đâu?
Có tiếng bảo
tôi: Ôi dào tưởng gì, có thế mà đã hơn 30 năm rồi, ông anh băn khoăn làm gì?
Tôi bảo:
Không đâu, có những khoảng khắc những con người mà cả đời người, ta không sao
quên được.
Đột nhiên
Hùng nói: Em cũng có một cô gái, mà cho đến bây giờ em cũng không quên được.
Cũng đã mấy chục năm rồi, cũng không rõ cô ấy ở đâu, số phận giờ cô ấy ra sao?
Cũng lại trầm
ngâm, Hùng kể: (Tại sao khi nhắc lại quá
khứ, người ta hay trầm ngâm thế nhỉ? À dễ hiểu thôi, vì đó là tình cảm là quá
khứ, là nỗi nhớ.)
-Em chạy giao liên cơ giới. Bên ấy ngừng ném
bom rồi không sợ bom nữa, song em vẫn chạy cả đêm. Bữa đó em chở toàn chị em ra
Bắc, có cả thương binh nữa, tới đèo Phulanhíc em dừng xe cho chị em xuống nghỉ.
Em đi một
vòng ra sau xe, nghe thấy tiếng hát nho nhỏ:
Tính tính tang tang tình...con chim đrao
xinh hát líu lo ca mừng công anh...
Em đập vào
thùng xe: Này, không xuống mà đi đái đi à, còn ở đó mà tính tính tính?
Anh có biết
không, đáp lại là một giọng lạnh tanh phớt đời: Có còn chân đâu mà xuống?
Ngạc nhiên,
em leo lên thùng xe: Nằm trên cái võng vắt ngang qua hai thành xe là một cô
gái, mà hai chân bị cắt cụt ngang đùi, thoáng nhìn em đã bị xốc.
-Làm sao mà
cô bị thế này?...một thoáng im lặng: - Hỏi chi lạ? mìn.
-Thế cô ở đơn
vị nào? - Du kích.
-Quê cô ở đâu?
- Hỏi chi mà hỏi lắm ...? Quảng Đà.
Cô ấy không
muốn nói chuyện, dễ hiểu thôi, một cô gái mà hai chân bị cắt cụt thì cô ấy còn
lấy đâu ra hào hứng mà nói chuyện nữa? Một nỗi buồn, một nỗi thất vọng tràn
ngập cả cuộc đời, nhất là với cuộc đời của một người con gái.
Em để ý cô ấy chỉ chừng 19, 20 tuổi thôi, rất
đẹp! Trăng sáng giữa rừng soi tỏ mặt cô ấy, một khuôn mặt trái xoan, trắng
xanh. Và đặc biệt là đôi lông mày, thế nào nhỉ, như hai vệt thẫm nhung huyền
mềm mại trên đôi mắt đen bồ câu. Có thể nói chưa bao giờ em cảm xúc trước một
cô gái như vậy, một cảm giác đau sâu thăm thẳm vừa luyến tiếc vừa cảm phục,
tiếc quá hai chân cô ta bị cắt cụt rồi.
Bỗng cô bé
hỏi em:
- Ra Bắc còn
xa không anh, em muốn được sớm ra Bắc quá.
Không hiểu ma
xui quỷ khiến thế nào mà em lại trả lời cô ấy bằng cái giọng tưng tửng mà về
sau, không bao giờ em tha thứ cho mình:
-Xa đấy, tới
Quảng Bình là 100 km tới Hà Nội là 700 km, liệu mà… nằm!
Em hỏi, thế
có muốn đi...không, tôi bế?- Dạ.
Vậy là em cúi
xuống bế cô bé lên, trời ạ, người gì mà nhẹ vậy? còn có một mẩu!
Cô bé ngoan
ngoãn choàng tay qua cổ em, vừa có mấy chị em về, em trao cô bé cho họ.
Em còn chạy
nhiều chuyến giao liên nữa, ngay lúc đó thì em không để ý lắm, chiến trường mà,
nhưng về tới đơn vị và cho đến tận bây giờ: Hình ảnh cô bé đó, đôi mắt đó, đôi
lông mày đó, và cả đôi chân cụt vẫn ám ảnh em, không thể nào quên được.
Nhìn những
giọt càfê nhỏ tí tách, mà mỗi giọt là một giây trôi qua, im lặng.
Chúng tôi như
cùng một suy nghĩ...
Hùng bảo:
- Em nói thật
nhé, em tiếc mãi là sao mình không hôn cô ấy một cái? Em tin đó là cái hôn
thánh thiện nhất đời em.
-Đúng vậy.
Tôi nói và có lẽ mọi người cùng nhận thấy như vậy.
Biết bao sự hy sinh hồn nhiên và thầm lặng.
Đã hơn 30 năm trôi qua, bây giờ Em ở đâu?
28.32009
.
NS

NS -- Người đội mũ .
ĐỖ ĐĂNG ĐÍCH
THỜI GIAN TRÔI
Thời gian trôi (Trường ca )
Ta nhớ lại
, nhớ về những bạn xưa
_ Đồng
đội
Đã một thời Đạn bom ,
chinh chiến
,
Trên khắp nẻo đường
Rừng núi
Biển
khơi ;
Mªnh
mang
nh÷ng
th¸ng ngµy rùc löa
Nh÷ng ©m thÇm lÆng lÏ
Nh÷ng
tr¸i tim
Nh÷ng
t©m hån
Trong tr¾ng
V« t
LÆng lÏ
®i vµo
mªnh m«ng thêi cuéc
Kh«ng tÝnh to¸n ,
nghÜ suy sèng chÕt
C¶ giang san , biÓn réng mÕn yªu
Vµ
quª ta ®ã
Vinh quang
Oanh liÖt hµo hïng
G¬ng bÊt tö
®ang r¹ng ngêi trang vë Êy
Tr¸i tim yªu say ®¾m
Mét niÒm tin .
N¨m xa
Nh÷ng anh hïng
Nh÷ng chiÕn sü v« danh
Vµ nh÷ng trêng ca
thêi khãi löa binh ®ao
Nh÷ng ®¹i ngµn hïng vü
Tëng chõng thiªng liªng
huyÒn tho¹i
®· bao thêi
níc độc
linh thiªng
Ngêi b¹n ta __- §ång ®éi dÊn th©n vµo
nh ch©n lý thuë thanh xu©n
Nh÷ng chiÕn binh thêi hßa b×nh
Tõ kh¾p nÎo miÒn ®Êt níc
BiÓn c¶ , trêi xanh
Vµ ®Êt mÑ biªn c¬ng ,
Nh×n t¬ng lai dÊn bíc
trªn tõng trang s¸ch
Kh«ng ®Çu hµng vµ
Nh chiÕm lÜnh nh÷ng ®Ønh cao ;
Tuæi thanh xu©n cña mét thêi con g¸i
Nµo ai ph©n biÖt víi ai nµo
ChØ mét lßng cho nh÷ng íc ao
Dèc søc m×nh cho thêi chinh chiÕn
Quªn th©n thÕ ®Ó m·i ngät ngµo
T×nh ®ång ®éi Êy trong trang s¸ch
Th¾m b¹n lßng say víi ¸nh sao
§Ó mét ngµy mai trong khãi löa
Cho ngµn ph¸o ®Ñp gi÷a trêi cao .
¤i ! nh÷ng b¶n t×nh ca
của thêi gian khã
B¶n trêng ca cña m¸i trêng yªu mÕn yêu
Cña nh÷ng bíc ch©n in dÊu
nÎo Trêng S¬n
MiÒn Nam , §Êt B¾c
Nh÷ng con ngêi
ThÕ hÖ Hå ChÝ Minh
Mµ ta vÉn nî khi kh«ng biÕt ®ñ ®Çy qu¸ khø
Mét m¸i
trêng
Nh÷ng §¹i ®éi ®Çu tiªn
Mét t¶ng nÒn
Nay v÷ng tr·i Kü thuËt cña ngµn qu©n
Hµng ch÷ ®á Qu©n §éi Nh©n D©n
L¸ Qu©n Kú QuyÕt th¾ng ch¼ng hÒ phai .
(Còn nữa )TRƯỜNG CA _ Khóa -1--C213 Học Viện K T Q S V N .
Ký sự Thời gian
Khoảnh khắc cuộc đời __
Cựu giảng viên C 213 : Vũ Quốc Hùng _ Nguyên
Bí thư Trung Ương Đảng
Nguyễn
Khoa Thịnh - Tiến sỹ Khoa học __
Nguyên
: Giám đốc Học viện Kỹ thuạt quân sự V.N
Tổng cục Trưởng Tổng cục Kỹ Thuật
Qun đội N.D.V.N
Viện Trưởng Viện Kho học công nghệ quốc phòng V.N .
( Giảng viên
hướng dẫn tác giả ( học viên Đỗ ĐăngĐích
_
Học
tâ và Nghiên cứu Trên Đại học __1968 )( Sức bền Vật liệu ___
Thành lập Phương tình Biểu thị Trạng Thái Ứng
suất Khối và Biểu diễn
Trên Mặt phảng Vòng tròn MOHR
Nguyên Trưởng Khoa
Trang bị cơ điện :
Nguyên Đại Tá Lê Phương Cảo.
Nguyên Quân Y
C213 _ Nguyễn Thị Nga
Các Sỹ QuanTrung-Cao Cấp Q.Đ.N.D.V.N
Kỹ Sư Quân Sự
Trạm Nguồn Điện __ C213
Có lẽ ngày 7-5 1954 kỷ niệm chiến thắng lịch sử của Quân đội nhân dân V. N
__ Chiến thắng Điện Biên Phủ trùng với ngày 7 tháng năm 1955 , _ ngày chính
thức thành lập Quân chủng Hải quân của Quân đội nhan dân Việt Nam , nên ít ai
nghĩ đến kỷ niệm , tổ chức long trọng ngay cả những người lính Hải Quân cũng
nhiều người không hay , mà những ngày lịch sử ngày 2 và 5-tháng 8 - 1964 không
mấy ai không biết ___ dấu ấn lịch sử của Hải Quân V.N .
*Truyện
Hồi ký
về ngày 5
tháng 8 --1964
Tháng 5 đối với tôi quả là một tháng mà khi nghĩ đến thì bao nhiêu kỷ niệm
dồn về , mà những kỷ niệm ấy như một ngày không quên trong thời trai trẻ khoác
trên mình màu sắc biển khơi __ Lính thủy Việt Nam .
Tháng 5 đổ lửa trên đất tận cùng Nghệ An , trên ven quốc lộ 8 sang Lào với dòng
Lam đục ngầu vì lũ ; trên con sông này , bên lở là bên Nghệ An ; một mùa lũ năm
ấy , Tháng 5 , chúng tôi những người lính thủy , binh nhì đầm mình từ 9 mười
giờ tối đến 2, ba giờ sáng vật lộn với con lũ cứu bè gỗ của đồng bào , bởi
những năm ấy , Nghệ an nghèo lắm , bữa khoai bữa cơm và những bè gỗ khai thác
trên rừng Nghệ An là một phần lớn cuộc sống của nhân dân , bởi lúa nước ở vùng
này khó trồng và năng xuất thấp . Bấy giở từng dẫy Mía ven sông cứ lũ đến là lở
cả tảng bờ sông để rồi trôi theo dòng nước ngông cuồng ; Thời ấy chưa có quy
hoạch gì cho cây mía dù Nhà máy Đường Sông Lam nằm bên bờ sông theo Quốc lộ 8 ,
đó cũng là một nguồn sống của người dân bên nhà máy đường này , . Những năm
tháng chưa biết biển khơi là đâu mà chúng tôi đã vật lộn với lũ nguồn điên loạn
mà cũng chẳng cứu hộ được mấy vì chẳng ai có kinh nghiệm và chưa biết cách ,
toàn những lính thủy 18 đôi mươi non choẹt, có anh chịu thua dòng nước và ngồi
trên khóm mía mà gặm vì vừa đói vừa mệt, chờ lệnh thu quân .
***
Mấy năm sau , khi đã rời đoàn không số để vận tải biển phía Bắc , rồi lại
lên bờ , ra ven biển
Quảng
Ninh xây dựng căn cứ sửa chữa Hải Quân X 48 mà năm xưa X 48 đã được tặng Danh
hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang , nhưng nào họ có hay biết gì về cái ngày
trứng nước năm xưa .
Ngày ấy đã 50 năm trôi qua rồi,
đúng trưa ngày 19 tháng 5 Hai anh em chúng tôi đặt ba lô trên con đường mòn vào
một khu rừng nơi ấy trại giam tù nhân ; khi vừa đặt ba lô xuống tôi gặp một
công an giải 3,4 tù nhân rời lán ra khỏi rừng về đâu đó , mấy người tù chào
chúng tôi bằng “ ông” mặc dù tôi rất trẻ chỉ anh Chính trị viên Trung úyKỹ sư
Lê Đình Dinh là ở tuối ngoài 30 người Huế ___ Bộ đội chống Pháp __ Kỹ Sư cơ khí
Chế tạo – Đại Học Bách khoa Hà nội khóa 1 .
Bấy giờ tôi nghĩ : Có lẽ tù thì mất quyền công dân và gặp bất kỳ ai ngoài đời
đều phải chào bằng Ông ? .
Hai chúng tôi tiếp quản cái Lán nứa dựng sát chân núi chỉ có những thân gỗ và
tre nứa làm phản nối dài đủ cho từng chục người nằm ___ Nơi nương thân qua đêm
của những người tù . Một lán nứa nằm sát chân núi đã là doanh trại của chúng
tôi __ Những người khởi sự xây dựng một khu sửa chữa tàu thuyền và máy tàu tuần
la và tàu săn ngầm nhỏ bé của Hải Quân Việt Nam ; khi đó chúng tôi ra khỏi đơn
vị để ra ngaoì không được mặc quân phục để giữ bí mật , lính thủy chúng tôi
không được phép mặc dân phục ra ngoài thì cách xa từ 3 km trở lên mới được mặc
quân phục lính thủy ( Quả thật điều này làm chúng tôi thích thú trong các ngày
nghỉ được đi chơi ngoài dân hoặc ra Cẩm Phả Cửa Ông . )
Bây giờ , có lẽ nhiều người cho rằng
, đó chẳng có gì đáng kể , nhưng với tôi là một tháng 5 đáng nhớ ___ Ngày đầu
tiên của X 48 Hải quân đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang . Bấy giờ , con suối
Quang Hanh , suối Ông Già và suối nước nóng với chúng tôi cũng như những cây lá
, củi khô , vách núi và những cơn lũ rừng cộng Thủy triều , vật lộn với thiếu
thốn , đi sửa chữa ngoài khu neo mà thôi . Nhưng giờ thì Suối nước nóng và nước
khoáng Quang Hanh đã thay đổi theo thời gian trong nhiều năm Hòa bình trôi qua
.
Sự phát triển tất yếu của
Hải Quân Việt Nam Và quá trình xây dựng quân chủng đủ cho chúng ta thấy Sự tiềm
tàng trong sức mạnh của Quân đội Nhân Dân Việt Nam .
Tôi gọi là truyện hồi ký , bởi những điều vừa nói chỉ là một mảnh nhỏ trong
biết bao thay đổi trong những năm chiến tranh khốc liệt chống trả Đế quốc Mỹ
trên miền Bắc mà khốc liệt và hy sinh nhiều phải kể đến quân chủng Hải quân với
Khu neo __Hạ Long, mà nơi tôi ngồi dưới hầm ôm súng không được nhả đạn
cho dù F4 , F105 __ Thần Sấm , Con Ma cách đâù mình trong tầm đạn súng
bộ binh , bởi nổ súng sẽ bị lộ bí mật của khu rừng trên đường xâm
nhập oanh tạc khu neo Hải Quân ; cho dù bọn phi công cho phi cơ bay như
những tàu lá lượn trongió mùa thulábay ,
cũng không khỏi
rớt, tan tành
trên sườn núi cheo veo .
.

Kỷ niệm 40 năm ngày nhập ngũ __ Cơ điện
. Báo vụ (VTD) Hạm thuyền, Lặn
biển Hải Quân 1962 Hàn huyên __ Lữ
đoàn 125 ( Đoàn Không số ( Phan Hải Hồ-Báo vụ viên (áo
đen thứ 2 từ phải )Người nhờ
Thuyền trưởng chặt chân lủng lẳng thương tích để chiến đấu sau khi
hoàn thành nhiệm vụ vận tải quay về Bắc ___( Con tàu 69 ). ))
TỪ NHÀ TRƯỜNG RA BIÊN GIỚI
Trích Nguyên văn đoạn mở đầu Hồi
ký của Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu
tướng -- C213 – khóa 1 học viện kthuật
Quân sự V.N __
“TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG BIÊN GIỚI “
\\\\\\\\”
Tháng 2/1979 chiến tranh biên giới nổ ra . Tôi đang giảng dạy ở trường
ĐHKT Quân sự thì nhận được lệnh điều lên QĐ5 . Đó là một bước ngoặt trong cuộc
đời . Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi lại xa rời nghề thầy giáo , xa rời môn học
Nguyên lý máy mà tôi đã gắn bó với nó 6 năm liền .
. Thật ra trong những năm còn là
sinh viên tôi đã từng là tổng cán sự , tôi lên lớp phụ đạo rất nhiều lần cho các học viên cùng
lớp nhiều môn học khác nhau tôi được rèn
luyện kỹ năng sư phạm từ khi còn là sinh viên . , đến khi làm thầy giáo ,mới
lên lớp giảng bài cho vài khóa đầu tiên , các học viên đã nói với tôi rằng :”
Anh sinh ra là để làm thầy giáo .”
Cái nghề thầy giáo tưởng như đã gắn liền với tôi . Nhưng cuộc đời là
như thế , không ai có thể tự quyết định số phận của mình
Trước đó ,không lâu , có một lần vào phòng thí nghiệm cơ .học ,
, Anh Phát trong bộ môn , người
phụ trách phòng thí nghiệm nói với tôi rằng :” Ông học giỏi và dạy cũng giỏi , nhưng hình như con đường học vấn của ông cũng không
lâu dài .”
Lúc ấy tôi không tin , tôi nghĩ ông này chỉ nói vớ vẩn . Thế mà bây giờ
nó đã trở thành sự thật .
February 5, 2015
Cựu Trưởng
khoa và các Cựu giảng viên , Học viên
C213 ( Trưởng khoa Lê Phương Cảo Người cạnh Nữ Quân y Đại đội 213 )
Nguyên cựu tổ
trưởng bộ môn Sức bền
Nguyễn Khoa
Thịnh __ Giảng viên ( Trung Tướng )
hướng dẫn (một nhóm có Đỗ Đăng Đích ) học
và Nghiên cứu trên Đại học __ 1968
Và Cựu Giảng viên Vũ Quốc Hùng _(Bí thư
TW Đảng ) *
**********
Vậy đấy .
Tôi đọc những
trang đầu cuốn Hồi ký của Tướng Nghiêm Sỹ Chúng đưa cho khi cuộc gặp mặt thường
niên 2015 vào hồi cuối .
Nghĩ suy một hồi lâu , thì ra mỗi người mỗi
con đường mỗi ngả trên con đường binh nghiệp sau khi tốt nghiệp khóa 1 trường
Đại học kỹ thuật quân sự với quân hàm thiếu úy và học vị __ Kỹ sư quân sự .
Chúng tôi đều là những học viên xuất sắc
trong học tập và rèn luyện nên thường đều là cán sự phụ đạo thêm các bài giảng
sau giờ lên lớp về tự học và nắm vững bài .
Một tốp chúng tôi ngay trong những năm đầu và
tiếp sang năm thứ 2 của Khoa học Cơ bản , nhà trường và khoa trang bị cơ điện
đã có ý định tuyển chọn ở lại trường làm
giảng viên các môn kỹ thuật cơ sở mà nhà trường và khoa còn trống vắng , sự
tuyển chọn cũng theo cách thức bấy giờ đối với các trường đại học trong Bộ Đại
học và Trung học chuyên nghiệp
Trong thời buổi chiến tranh ấy , thời buổi
mà khoa học kỹ thuật của Việt Nam , nhất
là kỹ thuật quân sự còn non kém thì ngoài nhà trường đại học là môi trường thả
sức phát huy nghiên cứu ứng dụng mà trong nhà trường chỉ thuần túy là giảng dạy
theo giáo trình , dù có tự mình biên soạn ra cũng chỉ mang tính chất chọn lọc
và dịch từ Giaos trình Tiếng NGA sẵn có ; cho nên không mấy ai muốn ở lại trên
bục giảng đường đại học , hầu hết đều muốn cất cánh đại bàng tung bay trên các
nẻo đường của Tổ quốc mà mình hằng mến yêu , dấn thân vào chinh chiến .
Trong số tổ trưởng bộ môn
Sức bền vật liệu của khoa ___ Anh Nguyễn Hoa Thịnh chọnmột số học
viên cho học và nghiên cứu sau năm thứ 2
có tôi , Lê Kinh tuyến , Nguyễn Đình Thắng , Nguyễn Minh Châu , Lê Công Sơn ,
Nguyễn Đình Năng , thì chỉ có Nguyễn Đình Thắng và Nguyễn Minh Châu Ngành Ô-tô
– Tăng –xích ở lại làm giảng viên và rồi đi nghiên cứu Phó Tiến sỹ , ngành
Nguồn Điện không có ai ở lại ; Riêng Nghiêm Sỹ Chúng từ không quân về trường đã
qua năm thứ nhất đại học tổng hợp nên nổi trội hơn chúng tôi ở những năm đầu
cơ bản và xuất sắc nhất cũng được giữ lại làm giảng viên .
Thời gian trôi đi , tôi về Cục Vật Tư Tổng cục
Kỹ thuật mà con dấu vẫn chưa đổi từ Tổng cục Hậu cần sang Tổng cục Kỹ Thuật .
vẫn còn là Cục Vật tư –Nhiên liệu .; bấy giờ vừa tách ra thành Cục Vật Tư và
Cục Xăng-Dầu . Đồng đội hầu hết về các
đơn vị chiến đấu , xí nghiệp quốc phòng và từng tốp , lần lượt , bấy giờ gọi là
“ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước “ trên ve áo chúng tôi mới chỉ quân hàm Thiếu
úy .
Chia tay nhau không ai biết ai về đâu đi đâu ,
đi B dài hay B ngắn mà đôi khi gặp thoáng qua nhau trên Đường phố Hà Nội hoặc
qua đôi lần đến Cục Tôi lấy Vật Tư mà
thôi .
Mỗi người mỗi ngả chiến trường , mỗi ngả hậu
phương lớn __ Miền Bắc . Bây giờ gần 50 năm , gặp lại mới tường những thăng
trầm , gian khổ vất vả trong những tháng năm chống Mỹ thống nhất đất nước và
chiến tranh vệ quốc chống quân xâm lược Trung Hoa 1979 .
*****
Khi Nghiêm Sỹ Chúng và Nguyễn Minh Châu rời
bục giảng lên biên giới xây dựng căn cứ Kỹ thuật cấp Quân Đoàn cho một cuộc
chiến bảo vệ tổ qốc , thì những năm ấy
tôi đã vừa chuyển ngành về NamĐịnh sau 4 năm đeo quân hàm Trung úy và chưa hết
thời gian bảo lưu lương và hàm sỹ quan .
Chiến tranh Biên giới nổ ra tôi đưa cán bộ nhân viên đi khám tuyển tái ngũ , một số đi dự nhiệm ,
còn tôi vừa chuyển ngành , sức đang yếu
nên không dám gọi tái ngũ .
Ở lại hậu phương Tỉnh Hà-Nam-Ninh .
Những mất mát , hy sinh trên chiến trường Biên
giới phía Bắc với quân đội Trung quốc đã
tỏ ra là mối đại họa cho tồn vong của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam .
Kinh tế của toàn quốc chưa được phục hồi là
mấy mà khó khăn chồng chất , không ai hiểu vì sao khổ đến thế , họa xâm lăng
lại đến sau dăm ba năm hòa bình . Cả miền Bắc lại đi vào xây dựng Căn Cứ , cơ
sở sơ tán chống Trung quốc khi khả năng Địa phương bị chiếm đóng . .
Tỉnh ủy và ban tổ chức tỉnh không giao cho tôi
một chức vụ nào , nhưng tôi vẫn có nhiệm vụ như một phó trưởng ban Khoa học Kỹ
thuật , thành lập đơn vị Tự Vệ gồm Ủy ban +Hội Văn Học Nghệ thuật Hà nam ninh
với quyết định của Thành Đội Trưởng : Tôi là Trung Đội Trưởng và Trưởng ban làm
Chính trị Viên ( Vì quân số chỉ đủ lập thành Trung đội Tự vệ ) .
Trong chiến tranh phá hoại miền bắc của Mỹ
Nhiều cơ quan của tỉnh bị trúng bom , trong đóUỷ ban Khoa học và Hội Văn Học
Cũng bị bom trúng hầm , tử vong tại chỗ nhiều cán bộ kỹ sư , hòa bình quay về
tôi đã thay mặt cơ quan cùng đồng nghiệp thăm hỏi gia đình thương binh liệt sỹ
và người đã mất trong chiến tranh .
Sau đợt Gọi Tái ngũ của Tỉnh là đến
Công An Tỉnh lo Sắp xếp Địa điểm sơ tán cho từng Cơ quan của Tỉnh
trênĐịa bàn thành phố .
Ủy ban Khoa học và Kỹ Thuật là một ban chức năng của Ủy ban nhân dân
tỉnh và Tỉnh ủy Hà –Nam- Ninh cũng được Ty công An lo xếp nơi sơ tán theo 2
phương án hợp theo mức độ chiếm đóng của quân xâm lược Trung Quốc .
Ngay từ khi về Ủy ban Khoa học Tôi đã phải
đảm nhiệm Phụ trách phòng Tổng hợp Khoa học và Bên Công An lấy hồ sơ bí mật bảo
vệ an ninh kinh tế và chính trị chính
trị với tư cách một sỹ quan Trung cấp ; bởi thế như mặc định một phó trưởng Ban
, Tôi được yêu cầu và cử sang Ty Công an để nhận địa điểm sơ tán:
_ Phương án 1 .
Trong phòng làm việc của Ty Công An chỉ định cho tôi một địa điểm thuộc
xã lân cận Thành phố và chỉ có cơ quan mình ở đó , không ai có thể biết khi
chưa sơ tán .
Nhiệm vụ của tôi là : Liên hệ và thương lượng với nhân dân trong xã và
Chính quyền Xã để Bảo đảm cho Cơ quan lánh nạn và làm việc nếu Thành phố bị
chiếm đóng .
Trong những năm tại ngũ , thời còn trong trường Đại học , tôi là Cán bộ
Kiêm chức __ Trung đội Phó và có nhiều tuổi quân nên thường được Đại đội cử đi
Tiền Trạm khi chuyển quân hoặc quan hệ với nhân dân địa phương trong lúc đóng
quân đồn trú . Tôi ngỡ tưởng Nhân dân
cũng sẵn lòngvà vui vẻ nhận lời , nhường chỗ ở cho cán bộ của Cơ quan Tỉnh Sơ
tán lánh nạn . Nào ngờ : Sau khi chọn lựa từng gia đình theo cung cấp tình hình
chính trị kinh tế và đức độ của mỗi gia đình xin tạm sơ tan khi cần mà ban đầu
có nhiều nhà từ chối , chỉ đôi ba nhà
đồng ý ngay . Tôi phải giải thích nói rõ Cơ quan mình là cơ quan Khoa
học , phần lớn là Trí thức nên Cán bộ Công nhân Viên không như Người ta đã gặp
khi sơ tán thời chống mỹ ; ; đồng thời giải thích để nhân dân biết chủ trương và tình huống cùng
mối liên quan đến vận mệnh của Tỉnh nhà
.
Khi đã lọt tai người ta đồng ý cho chúng tôi
đạt bàn làm việc hoặc chỗ ăn nghỉ của cơ quan mình .
Việc Sơ tán không chỉ là liên hệ trước ,
không chỉ soát xét tài liệu cần thiết mang theo
và đóng gói gọn gàng đi được ngay khi có lệnh ; mà đến nơi sơ tán còn
cần ổn định nhanh để làm việc ; Cho nên Tôi phải vẽ Sơ đồ Nhà Xóm và đường đi
lối lại cùng với sắp xếp cho toàn Cơ quan thích hợp công việc và quản lý .
Trên cơ sở vẽ bản đồ trú ngụ của cơ quan cụ
thể và chi tiết để báo cáo trình bày
trong giao ban và thi hành khi nguy biến
.
Là một tỉnh lớn ở xa Biên giới , lại là Cơ quan khoa học và
Kỹ Thuật nên Tôi không mấy quan tâm đến chiến sự , bởi vốn tôi có thói quen
:khi đã làm nhiệm vụ chính trị nào thì hoàn toàn toàn tâm toàn ý đi vào chuyên môn nghiệp vụ theo trách nhệm
của mình , không bon chen , lấn sân người khác , cho nên , Khi quân Trung Quốc
xốc thế trận ban đầu làm ta tổn thất to lớn và Tôi lại được gọi đi lo liệu Căn
cứ Sơ tán __
Phương
án 2
lùi sâu hơn vào địa phận hiểm trở hơn an toàn hơn phương án 1 .
Ngay trong phương án 1 Tôi đã phải 2 lần về
Ty công an lấy địa điểm vì địa điểm đầu tiên gần thành phố hơn giao thông tiện
hơn đã bị Liên Xã , nhanh chân lấy trước mà Cơ quan Công An không hay , bởi
Liên Xã nằm vòng ngoài bảo vệ lo liệu của Công an , nên họ thính tai co cẳng
chạy trước , làm tôi phải đạp xe về Xã lần 2 xa hơn lần đầu.
Phương
án 2 ,
chúng tôi được chỉ định sơ tán sâu trong Huyện
Nho Quan cũ qua cả Me , phà Đế Hoàng long ; Từ Quốc lộ 1A qua Gián Khuất còn rẽ
sâu vào nhiều Km và vượt qua ao lạch khó đi ,; Nếu theo Quốc lộ 6 B cũng phải
vượt qua quãng đường liên thôn như đi từ Quốc lộ 1 A . Lẽ đương nhiên cơ
quan ở sâu trong làng giáp núi có hiểm
trở hơn , an toàn hơn , nhưng việc quản
lý Hoạt Động Khoa học kỹ thuật
cũng khó khăn hơn và đời sống anh chị em sẽ kham khổ hơn . Riêng chuyện đi lập
căn cứ sơ tán tôi đã phải liên hệ với Ủy
ban nhân dân và Huyện ủy
rồi mới xuống được xã .
Khi đi lập căn cứ như vậy tôi đã thấy đời
sống nhân dân nơi đây quá khó khăn và
chênh lệch nhiều so với thị thành . Tuy
rằng Đồng Giao , Quán Cháo xưa kia là rừng thiêng nước độc , ai sống ở đó lâu ngày mà về thì bụng ỏng da
xanh , nay không còn nữa , nhưng còn
nguyên dáng hình một vùng nghèo nàn , bữa cơm chủ yếu là khoai lang ; nhà nào
trên lưng chừng nhà cũng hàng tạ khoai lang thái lát phơi khô , đường đi quanh
co ẩm thấp . Tôi đã từng xét duyệt các đề tài về Giống Khoai Lang Hoàng Long và
cho đăng tải thông tin khoa học như một cứu cánh của nông nghiệp địa phương và
toàn quốc của một thời Ông Đại Tá Từ
Giấy Cho đăng tải và ông Nói Rằng : Ngô Bổ hơn Gạo . Tuy thế cái nghèo đói của
một đời khoai sắn qua ngày se thắt lòng tôi khi nhìn vợ con chỉ hơn người bát
cơm độn mỳ sợi .
Một thời gian khó một thời chiến tranh và
quân xâm lăng rình rập , bước chân người sỹ quan kỹ thuật trên mọi miền tổ quốc
không có gian khổ khó khăn nào giống nhau , chỉ có một điều giống nhau từ cùng
một cái nôi Đại học Kỹ Thuật Quân Sự là : không chùn bước trước khó khăn ,
không sợ hy sinh gian khổ , sống học tập và chiến đấu trên mặt trận não cũng
kiên trì dũng cảm và bằng trí tuệ , sức lực của chính bản thân mình không đòi
hỏi địa vị cao sang , vật chất no đầy .
Cuộc chiến vệ quốc chống Trung Quốc xâm
lược dần dần đi vào quá khứ một cách tiệm tiến và chiến tranh phai nhạt dần cho tới một thời
kinh tế vẫn ngày càng khó khăn cuộc sống đời dân sự của gia đình vợ con tôi vẫn
một màu áo lính mà sỹ quan quân đội cũng bị bạc đãi khi cài thiển cận như một
kính râm che khuất măt người chỉ nhìn thấy rõ khi địa vị đời sống tòa ra phát
ra màu hào quang .
Cuộc sống còn trong thời sung sức nhưng gian
truân còn tăng gấp bội .
…
Tôi sẽ viết tiếp trong những trang sau ./
Thank you,
Thursday, February 5, 2015
***************.
Hồi
ký của Thiếu Tướng Nghiêm Sỹ Chúng
Rút
trong Tập 1
NHỮNG
NGÀY ĐẦU Ở KHO K56 -----Kho Gốc Me
Đến năm 1980 , đồng chí Đại úy Lê Xuân
Ngắn –Tiểu đoàn Trường tiểu đoàn kho
K56 được cử đi học và tôi được phái xuống K56 làm Tiểu đoàn
Trưởng .Thực ra khi đã được bổ
nhiệm làm Phó phòng Quân khí Quân đoàn ,chức vụ tương đương với Trung
đoàn Phó người ta sẽ phải cân nhắc xem có nên nhận cái chức Tiểu
đoàn Trưởng kho hay không ? Vì nếu
nhận mà làm không ra gì thì rất mang tiếng vì đã là Phó phòng mà
làm không nổi cái chức Tiểu đoàn Trưởng . Công việc của người chỉ
huy ở kho không chỉ là công việc
chuyên môn đơn thuần . Ngoài công việc chuyên môn ở một kho đạn thời
chiến rất nặng nhọc , vất vả , còn phải lo đến chuyện ăn ở , sinh
hoạt, công tác tổ chức và chỉ huy một đơn vị .Nhưng với tôi không có gì đáng ngại ,
tôi đã hơn 3 tháng ở căn cứ T5 , tôi đã quen với việc chỉ huy phân đội
, Vả lại việc tôi có Phòng Quân khí lúc này là không thích hợp . Đồng chí Trưởng phòng
chắc chắn là không thích sự có mặt của tôi . Tôi vui vẻ nhận quyết
định về K56 với ý nghĩ :
” Đi một ngày
đàng , học một sàng khôn “ , muốn trở thành một người chỉ huy có
kinh nghiệm phải trải qua nhiều cương vị công tác .
Lúc này K56
mới được thành lập và mới tiếp nhận kho Gốc Me và Yên Vượng , công
việc đang rất bề bộn . Hàng ngày , vũ khí đạn dược được từ Bộ cấp
xuống cho Quân đoàn được vận chuyển bằng tàu hỏa lên Ga Đồng Mỏ và
sau đó được ô-tô của Tiểu đoàn 472 Cục Hậu cần chở về kho .Trữ lượng đạn dược của kho Gốc Me
và Yên Vượng từ 1.800 tấn tăng dần lên đến khoảng 3.000 tấn theo quy
định dự trữ của Quân đoàn . Các sư đoàn bộ binh và các trung đoàn
binh chủng , sau chiến đấu được bổ
sung đạn dược,
Hàng ngày đạn dược từ kho Gốc Me được vận chuyển đến tất cả
các đơn vị của Quân đoàn đóng trên khắp địa bàn của Tỉnh Lạng Sơn .
Công việc tiếp nhận , cấp phát đạn dược hàng ngày tại kho Gôc Me luôn
luoon diễn ra rất nhộn nhịp .
Tôi xuống kho
Gốc Me ,hận nhiệm vụ mà không hề mà không hề có cuộc bàn giao nào .
Đồng chí Lê Xuân Ngần đã rời khỏi đơn vị trước đó ít ngày . Sổ
sách, số liệu thống kê vũ khí đạn dược nằm trong tay một đồng chí
nhân viên thống kê là Thượng sỹ Nguyễn Văn Hùng . Thật ra lúc này mà
yêu cầu đồng chí Ngắn tiến hành được một cuộc bàn gia thì không phải dễ dàng.
Đồng chí Ngắn là Tiểu đoàn Trưởng , nhưng hầu như không có khái niệm gì về quản
lý khí tài , đạn dược .Vì đồng chí vốn là Sỹ quan Bộ binh . Mặt khác , vũ khí
đạn dược mới được chuyển về từ T 2đang còn ngổ ngang .;số liệu trên sổ rách và
số liệ hiện có còn khác nhau xa . Nhưng vấn đề là cần có người chỉ huy để
điều hành Tiểu đoàn ngay nên không nhất thiết phải tiến hành bàn giao
.
Ngày đầu tiên xuống kho Gốc Me ,tôi bắt đầu tiếp xúc
với các cán bộ và nhân viên kho . Chính trị viên kho là đồng chí
Thượng úy Tăng Văn Mò , xuất thân là một Sỹ quan Bộ binh , quê ở Bắc
Giang , trình độ văn hóa chưa hết Phổ thong Trung học , trước khi đi bộ
đội đồng chí là dân thuyền chài nên rất có tài bắt cá . Đồng chí
mò sinh năm 1942 , lúc đó 37 tuổi . Tiểu đoàn Phó là đồng chí Lương
sinh năm 1938 , quê Nam Hà , xuất thân là chiến sỹ lái xe . Đồng chí
Lương phụ trách công tác hậu cần . Tham mưu Trưởng Tiểu đoàn là đồng
chí Thoan , Trung úy , đã từng ở Phòng Quân khí về sau được điều về
Tiểu đoàn Kho . Trong 3 đồng chí thì chỉ có đồng chí Thoan là người
có ít nhiều kiến thức về đạn . Vì trước đây đồng chí cũng đã từng
là giáo viên về vũ khí , đạn ở trường SQHC được điều về phòng Quân
khí Quân đoàn .. Nhưng có lẽ cho đến lúc này đồng chí vẫn chưa thể
thích nghi được với công việc ở đơn vị . Có nhiều người khi phải xa
rời một môi trường sống và làm việc quen thuộc , họ rất khó thích
nghi với một môi trường sống mới
và một công việc mới . . Từ trường SQHC được điều về Phòng
Quân khí Quân đoàn , đồng chí Thoan chưa biết mình sẽ phải làm việc
như thế nào , lại không được đồng
chí Trưởng phòng hướng dẫn và phân công cho một công việc gì cả ,
đồng chí Thoan cứ ngơ ngơ , ngác ngác cho đến khi được điều về làm
Tham Mưu Trưởng d 56 . Gọi là Tham
mưu Trưởng cho oai thực ra đó là một chức vụ Trợ lý Tham MưuTiểu
đoàn . Tuy nhiên đã làm Tham mưu , nhưng nghiệp vụ về công tác tham mưu
thì đồng chí Thoan chưa hề được
học một ngày nào . Một người vốn đã thụ động , lại được phân cho
một việc mà mình không có nghiệp vụ thì quả là khó khăn . Khi gặp
đồng chí Thoan ở kho ,tôi hỏi :
-
Anh là Tham mưu
Trưởng thì hàng ngày anh làm việc gì ?
Đồng chí Thoan gãi đầu ,gãi
tai không biết trả lời thế nào,thực ra khi được điều về kho với chức
danh là Tham mưu Trưởng có lẽ đồng chí cũng không biết phải làm như
thế nào . !
Một câu hỏi tưởng là đơn giản
, hóa ra lại là một câu hỏi khó .Mãi một lúc sau đồng chí mới
nói :
-
Thì lâu lâu nghĩ ra việc gì tôi sẽ mách cho Thủ trưởng !
Hóa ra đồng chí Thoan nghĩ
rằng làm Tham mưu Trưởng tức là làm Thầy dùi cho Thủ Trưởng !
Lúc này ,tôi mới nói với
đồng chí Thoan :
-
Anh làm công tác Tham mưu có nghĩa là anh sẽ là
người tổng hợp và soạn thảo ra các kế hoạch công tác ngắn hạn và
dài hạn của đơn vị . Muốn vậy ,anh phải nắm được các chủ trương ,
chỉ thị của cấp trên , hướng dẫn của ngành và tình hình của đơn vị
; trên cơ sở đó , anh phải lập ra các kế hoạch để đơn vị tổ chức
thực hiện . Tóm lại , anh phải là người đề xuất những việc chúng ta
phải làm và phải làm bằng cách nào !
-
Nói như vậy ,
nhưng tôi chưa có hy vọng đồng chói Thoan sẽ làm được việc gì , trong
khi đồng chí chưa thích nghi được với môi trường công tác mới .
-
Trước khi nhận
quyết định xuống làm Tiểu đoàn Trưởng d 56, tôi là người lập kế
hoạch và trực tiếp chỉ đạo kế hoạch di chuyển vũ khí , đạn dược
từ T2 về Gốc Me . vì vậy tình hình công việc chuyên môn ở K56 tôi nắm
khá chắc . Tuy nhiên khi đã trở thành người chỉ huy của tiểu đoàn ,
tôi đã trở thành người trong cuộc ; tôi phải nắm chắc tình hình của
đơn vị và chỉ có như thế tôi mới có thể trả lời cho tôi câu hỏi
phải làm gì lúc này .
Tôi quyết đi vào kho để kiểm tra tình hình của đơn vị . Trong
các nhà kho bộ đội vẫn đang tiếp tục bốc xếp đạn dược .Công việc
thật là nặng nhọc ,nền nhà kho thấp hơn mặt đường khoảng 2m , từ
nền đường xuống nền nhà kho có hơn 10 bậc tam cấp.Những hòm đạn pháo 130 ly nặng
gần 80 Kg bộ đội phải vác trên vai bước xuống hơn 10 bậc tam cấp để
đưa được vào kho . Hòm đạn một người vác thì quá nặng , hai người
vác thì quá khó đi ;không có một phương tiện nào để giúp đỡ cho con
người trong những công việc này .Trời thì mưa lâm thâm , nếu đường trơn
rất dễ bị trượt ngã ;mà đã bị trượt ngã rất dễ bị chấn thương .
Làm việc lâu năm ở kho kiểu này về già rất dễ bị đau cột sống .
Kiểm tra công tác bốc xếp đạn dược , tôi
mới thấy bộ đội làm việc quá vất vả .Có đến 60% bộ đội trong kho
là nữ , công việc nặng nhọc thế này liệu có thích hợp với sức khỏe
của nữ quân nhân tuổi mới mười tám , đôi mươi hay không !; nhưng hiện
tại chưa có cách gì giải quyết .
Việc bốc xếp đạn dược từ trên xe xuống đường , rồi từ đường xuống
nhà kho và sắp xếp các hòm đạn trong kho chỉ dựa vào sức người là
chính và tình trạng này sẽ còn kéo dài rất nhiều năm vì việc cơ
giới hóa công việc sắp xếp đạn dược trong kho không phải là việc dễ
dàng .
Sau khi kiểm tra công tác sắp xếp đạn
dược tại các kho , tôi gọi đồng chí Lương , Tiểu đoàn Phó phụ trách
hậu cần và đồng vhí Lược quản lý
đơn vị đi kiểm tra nơi qăn chốn ở của bộ đội .
Về chỗ ở , do đơn vị mới di chuyển từ T2 về chưa xây dựng đượ
nhà ở nên cái Hội trường của Trường Quân chính trước đây đạt ở trung
tâm kho được biến thành nhà ở của bộ đội . Đó là một ngôi nhà cột
bê tông , vì kèo thép ,lợp giấy dầu có tới 10 gian , mỗi gian đều hơn
3m ; như vậy ngôi nhà này phải dài khoảng hơn 30m . Khẩu độ vì kèo 8m
, diện tích của nó khoảng 240 m2. Ngôi nhà không có tường vách gì ,
được chia đôi bởi một bức vách bằng giấy dầu , mỗi bên 5 gian . Nam
quân nhân ở một bên , nữ quân nhân ở một bên . Buổi tối trong kho không
có điện đóm gì ;các tiểu đội chỉ có đèn dầu , một vài cái đèn
bão .
Cơ quan Tiểu đoàn thì ở xen kẽ với các
gia đình công nhân của công ty hóa chất Mỏ ; khu gia đình của Công ty
hóa chất mỏ có 4 dãy nhà cấp 4 và một nhà ăn tập thể ; nhiều gia
đình công nhân đã chuyển chỗ ở đi nơi khác . Sau khi kho Gốc Me được
bàn giao cho Quân đoàn , trong mỗi dãy nhà khoảng 5 đến 6 gian chỉ còn
lác đác một đến 2 gia đình ở tạm trong khi chờ đợi công ty bố trí
về khu vực mới .
Sau khi đi kiểm
tra , tôi về hội ý Ban chỉ huy Tiểu đoàn để quy hoạch lại nơi ăn ở
của bộ đội . Tôi nêu ý kiến là : Không thể để bộ đội sinh hoạt trong
khu vực nhà kho chứa đạn dược , như vậy là vi phạm quy tắc an toàn .
Ngoài ra để cả nam lấn nữ ở trong
một dãy nhà .,không có tường bao , vách ngăn hoàn toàn không phù hợp
với điều kiện sinh hoạt của chị em .tình trạng này không thể kéo
dài được .
Chúng tôi
quyết định phải đưa bộ đội ở ra ngoaì khu vực kho , nhưng như vậy thì ở đâu ? điều đó
không có gì khó ; chúng tôi thuyết phục các gia đình công nhân của
công ty hóa chất dồn lại một dãy nhà , giải phóng được 2 dãy nhà
cấp 4 và điều tất cả các nữ quân nhân ra hai dãy nhà này .Như vậy,
cả khu tập thể của công ty hoá
chất mỏ có 4 dãy nhà thì chúng tôi đã sử dụng được 3 dãy ; một dãy giành cho BCH Tiểu đoàn . một dãy của các gia đình thuộc
công ty hóa chất mỏ và hai dãy giành
cho các chiến sỹ nữ .của tiểu đoàn . Phân đội Nam và bộ phận Vệ
binh được bố trí ở ra khỏi hàng rào kho và dựng nhà ven bờ suối .
Trong tình hình các đơn vị của Quân
đoàn đều đóng ở nhà dân hoặc đang ở dã ngoại , có được một chỗ ở
như vậy cũng có thể coi là tạm ổn . Nhưng do đơn vị có nhiều nữ ,
tôi quyết định phải làm nhà vệ sinh và nhà tắm cho chị em .Trước đây khu vực đi vệ sinh là cái bãi
sắn rộng mênh mông trong khu vực nhà kho của công ty hóa chất mỏ ; sắn
cao lút đầu người , cứ chui vào trong đó là mất hút . Còn muốn tăm
thì chiều chiều sau một ngày làm việc cực nhọc trong nhà kho , chị
em phải ra suối tắm . . Suối bắt
nguồn từ mỏ nước trên con đường từ Gốc Me vào Yên Vượng ; mỏ nước
nằm sát hàng rào kho , nơi đó có một cái Miếu gọi là Miếu Ba cô ,
thờ 3 cô gái ra tắm suối ở đây và bị chết đuối . Mặc dù đã có
người chết do tắm ở mỏ nước và người ta đã lập miếu thờ ,nhưng chỗ tắm yêu thích
nhất của chị em sau giờ làm việc vẫn là mỏ nước . Cách mỏ nước
khoảng năm trăm mét là đài quan sát của kho ; trên đài quan sát chiều
chiều , lính vệ binh đáng ra phải quét ống nhòn vùng kho để cảnh
giới an toàn thì lại chĩa ống nhòm về phía mỏ nước . Vì vậy, việc
làm cho chị em mấy cái nhà tắm ở mỏ nước không những chỉ tránh
được những cơn gió lạnh của mùa đông ngoài khe suối mà còn có tác
dụng làm mất mục tiêu của các ống nhòm từ trên đài quan sát .
Mỏ nước là
một hang động trong núi đá vôi nằm sâu trong lòng đất và tích đầy
nước . Có lẽ nước của cả vùng núi đá Cai Kinh theo các khe nước
ngầm đổ về đây .Mùa mưa , nước từ trong hang đổ ầm ầm ra suối qua
một cửa hang làm cho dòng suói ngập tràn như một dòng sông nhỏ .
Nước từ trong mỏ nước tuôn ra trong vắt có lẽ là do Nó được lọc qua
nhiều tầng đá vôi . Được ra mỏ nước tắm ,thật là thú vị vì nước
rất trong , rất sạch và rất mát. Về mùa khô tức là mùa đông ,dòng
nước đổ từ mỏ nước ra suối không còn dồi dào nữa ,dòng suối lại
khô cạn ; nhưng mỏ nước vẫn là nơi cung cấp nước duy nhất cho nhân dân
khu vực Gốc Me . Ngày nay , Do nạn chặt phá rừng nên nước trong mỏ đổ
ra dòng suối không còn được như trước nữa . Cách mỏ nước chừng vài
cây số , địa phương đã cho xây một con đập để giữ nước cho dòng suối
cả mùa đông .
Những giải
pháp tổ chức về nơi ăn ở của bộ đội như thế được coi là tạm ổn..
Tuy nhiên cuộc sống của bộ đội vào giai đoạn đó vẫn vô cùng khó khăn
. Mặc dù công tác trong kho vô cùng nặng nhọc , nhưng bữa ăn thì quá
đạm bạc , món ăn chính của bộ đội
lúc này là mắm tôm . Đồng
chí Lược quản lý bếp ăn tiểu đoàn nguyên là sinh viên năm thứ 2
Trường Đại học Nông Nghiệp được động viên
vào quân đội , đưa tôi đi thăm kho dự trữ thực phẩm của Tiểu
đoàn ; ngoài một số thịt hộp ít ỏi thỉnh thoảng trích ra để tiếp
đón các đoàn kiểm tra hoặc cấp trên , còn là các thùng mắm đủ loại
. ; mhưng nhiều nhất vẫn là mắm tôm . , mắm tôm đã được sấy khô thành
bột , một thứ bột màu nâu đen có mùi mắm và vị mặn chát có thể
bảo quản rất lâu .
Hàng ngày đồng chí Lược kiêm luôn việc
tiếp phẩm , đạp xe ra Mẹt mua một chục cái bắp cải cho
nhà bếp luộc là cơ bản chuẩn bị xong bữa ăn cho bộ đội . . Thức ăn
bày ra đĩa 3 ngăn cho một mâm chỉ có một đống bắp cải luộc và một
muôi bột nắm tôm thay cho nước chấm . Do việc ăn uống qua kham khổ ,tư
tưởng bộ đội nảy sinh tiêu cực , nhiều người giả ốm , trốn việc
;Chiến sỹ không tin vào khả năng của chỉ huy và tổ chức đời sống của cán bộ . Tiêu chuẩn gạo của bộ đội
mỗinười một ngày lúc đó là 7 lạng rưỡi , nhưng vì thiếu thức ăn nên
dẫu có đói bộ đội vẫn để cơm thừa ê hề . Để tận dụng lượng cơm
thừa , các bộ phận chăn nuôi gà ,chó để cải thiện .
Đến bữa ăn ,đến nhà bếp mang cơm về ,
bữa ăn được bày trên sân nhưng không
hề có bàn ghế ; cứ 7 , 8 người quây quần vào một mâm , xung quanh là
gà chó chạy lăng xăng ăn chực . ; trong khi cái nhà ăn do công ty hóa
chất mỏ để lại thì bỏ không . Từ một điều kiện khó khăn cộng với
khả năng tổ chức yếu kém của chỉ huy đã tạo ra một nếp sinh hoạt
không thể nào chấp nhận được . Để khắc phục tình trạng này và đưa
đơn vị vào nền nếp , ngay tối hôm mới về tôi cho họp đơn vị và quy
định : Các bộ phận trong kho không được tự ý nuôi gà , nuôi chó ; đến
bữa ăn cả đơn vị , kể cả ban chỉ
huy tiểu đoàn đều phải xuống nhà bếp ăn tập trung ..
Tôi gia hạn trong một tuần ,các bộ phận
có gà ,chó phải thanh toán hết .
Ngoài kho thực
phẩm khô mà chủ yếu là các loại mắm . Đơn vị còn có một đàn lơn
sống 26 con . vì vậy , đơn vị cũng có tổ chức chăn nuôi ;đó là nuôi
lợn thực phẩm , tức là lợn cấp theo tiêu chuẩn thự phẩm của đơn vị
định lượng mỗi người 33 gram một ngày .
Đồng chí Lược đưa tôi vào
kiểm tra chỗ nuôi lơn thực phẩm . Lợn thực phẩm của đơn vị được nhốt
trong một bể nước cứu hỏa trong khu vực kho. Bể nước có chiều dài
khoảng 8 m,chiều ngang 4 m xây nửa chìm nửa nổi ;phần chìm của bể sâu
khoảng một mét , phần nổi trên mặt đất cao khoảng 40 phân ; bên dưới
bể nước có 26 con lợn ; con lớn nhất chưa đến 30 Kg và con nhỏ nhất
chỉ khoảng 15 – 20 Kg .. Dạo ấy mùa đông , mưa phùn lất phất ,trời
rét , đàn lơn thực phẩm của đơn vị bị nhốt dưới bể nước thiếu ăn ,
gầy còm đang đứng túm tụm vào nhau run lập cập .Dưới đáy bể nước cứu hỏa là nước phân,thức ăn
thừa,rơm rạ đã bị đàn lợn dẫm đạp tạo thành một lớp rác bẩn trộn
với phân bốc lên một mùi hôi thối
rất khó chịu . Tôi nói với đồng chí Lược : Nếu nhốt đàn lơn
trong bể cứu hỏa như thế này ,đàn lơn không thể nào sống nổi chứ
đừng nói là tăng trọng ; theo đồng chí thì phải giải quyết như thế
nào ? Đồng chí Lược trả lời :
Em cũng chưa biết cách giải quyết như
thế nào !
Đơn vị hiện nay chưa có khả
năng xây được chuồng lơn hợp quy cách !Lợn thực phẩm nhận về chỉ có
cách nhốt vào đây . .
Tôi hỏi vậy chứ biết chắc rằng : đồng
chí Lược không có khả năng giải quyết việc này .
Tôi lại quay về hội ý ban chỉ huy tiểu đoàn .. Vào lúc này
chỉ có thể một cách là phải thảv đàn lơn ra khỏi bể nước cứu hỏa
để nuôi theo kiểu lơn thả rông ở miền núi . Có thể sẽ có con chạy
vào núi , nhưng số còn lại thì vẫn còn sống ; còn nếu cứ nhốt vào
bể nước tất cả sẽ lần lượt chết
.
Cả đồng chí Lương và đồng
chí Mò ,đều không đưa ra được một ý kiến gì .
Các đồng chí sợ rằng thả ra , lợn chạy hết vào núi thì không
có cách gì bắt lại được . Sau một hồi suy nghĩ tôi quyết định sẽ
thả đàn lơn ra khỏi bể nước cứu hỏa . . Đó là một quyết có thể
gọi là phiêu lưu ! bởi quay quanh vùng kho là những dãy núi đá .Vì
là vùng đất trong kho , dân không vào khai thác nên cây cối rất rậm rạp ; nếu đàn lơn chạy vào
các khe núi um tùm thì khó mà bắt lại được . Tuy nhiên không còn cách nào khác , nếu
cứ nhốt như thế ,mùa đông đến chắc chắn đàn lợn sẽ chết.Tôi lệnh cho bộ phận hậu cần của tiểu
đoàn chuyển tất cả 26 con ra khỏi bể nước cứu hỏa .đang ngập đầy
nước bẩn ;,rơm rạ mục lẫn với phân .
Sau khi đàn lơn được thả ra
ngoài ,chúng tôi quan sát xem chúng sẽ hành động như thế nào ? Không có một con nào bỏ chạy , chúng
đứng túm tụm vào nhau dưới gốc cây . Hình như chúng đang còn ngơ ngác
khi được thả tự do một cách bất ngờ .
Trời thì mưa lâm thâm ,nhiều con bị nhốt lâu ngày dưới bể nước
thân hình gầy còm ốm yếu đi đứng xiêu vẹo ; nhiều con lăn ra đất .
Việc mà trước đây không bao giờ chúng làm được khi bị nhốt dưới bể
nước ;ngập nước và phân . .
Đàn lợn chỉ quanh quẩn dưới gốc mấy cây nhãn trong khu vực kho
; đến trưa nuôi quân đưa máng lơn và thức ăn thừa của nhà bếp đến ,
đàn lợn lại túm tụm vào , tranh nhau ăn .. Như vậy là tôi không phải
lo đàn lợn bỏ chạy vào vào núi nữa . Những lần sau cho lợn ăn , tôi
nói với nuôi quân vừa cho lợn ăn vừa đánh kẻng .
Sau này cứ nghe tiếng kẻng là tất cả đàn lợn dù đang đi kiếm
ăn ở đâu đều phi băng băng về địa điểm tập trung .
Chúng tôi không phải lo làm
chuồng lợn và cũng không có một con lợn nào bỏ chạy vào núi thành
lợn rừng . . Đàn lợn thả rông như được trả lại trạng thái phù hợp
với nếp sống tự nhiên của chúng nên nhanh chóng được hồi phục .Chúng
có thể kiếm ăn trong khu vực kho những thứ gì mà chúng có thể ăn
được .
Sau vài ngày tiếp xúc với các
cán bộ của kho và tìm hiểu công tác tổ chức ở kho Tôi nghĩ rằng
rất nhiều công việc đang chờ đợi mình trong những ngày sắp tới .Tiẻu
đoàn đang rất cần một ngời chỉ huy biết quán xuyến công việc để đưa
tiểu đoàn vào nền nếp và cải thiện được tình hình hiện tại .
Người xưa nay có câu : “ Một
người hay lo bằng một kho người làm làm “.
Khi đã trở thành người chỉ huy một đơn
vị cơ sở , ta phải trở thành “ một người hay lo “ để giải quyết những
vấn đề đang tồn tại phát sinh trong quá trình vận động không ngừng
của một đơn vị ./.
October 26, 2015
Đỗ
Đăng Đích
Hồi
ký _
_
__________
LỜI ĐẦU .
Cho đến bây giờ ,
đã vào tuổi “ Nhân sinh thất thập cổ lai hy “ , Tôi vẫn coi mình là
một sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam ___ một người lính Cụ Hồ ; bởi
thế, mhững năm tháng ngoài quân ngũ đã trôi qua trong quá khứ vẫn xem
là những bước đi và làm việc của một Sỹ quan QĐND V.N cho dù trên cương vị công tác trong
ngành Quản lý Hoạt động Khoa học của một địa phương mà khi ấy là
một tứ cường của nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự Lãnh đạo của Đảng Lao động V.N mà tôi
là một Đảng viên được gia nhập Đảng trong Trường Đại học Kỹ thuật
quân Sự bấy giờ ___ Khóa thứ nhất của Học viện cùng tên hôm nay .
Điều này không có
gì gọi là ngộ nhận , bởi tôi trở thành một thủy thủ cơ điện hạm
tàu tuần la Hải Quân V.N từ một người Thợ Tiện và trưởng thành dưới
mái trường đại học kỹ thuật quân sự V. N ngay từ những ngày mới
thành lập trường , do Bộ tư lệnh Hải quân đưa về trường để sánh vai
cùng các Quân ,Binh chủng khác và tuổi quân của tôi đã vượt qua thời hạn cấp huân
chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất , Nó còn dài hơn thời gian tôi thực
sự làm việc trên địa bàn Tỉnh Hà- Nam- Ninh với văn bằng KỹsưQuân
sựTrạm Nguồn Điện với tư cách một chuyên viên-Kỹ sư Trưởng làm nhiệm
vụ của một Phó Trưởng ban, mặc dù Tỉnh ủy quản lý mà không hề có
quyết định chức vụ mà chỉ là đồng lương do Ngân sách Nhà nước trả
mà gánh trách nhiệm mà thôi , cũng không một hào trả cho tiền trách
nhiệm. Bởi trong giai đoạn đất nước thời ấy , niềm hạnh phúc và vinh
quang là được làm việc và phục vụ Tổ quốc , phục vụ Nhân dân của
một Đảng viên Đảng Lao động V.N , nhất lại là một Sỹ quan QĐND V.N
chuyển ngành , đã vững vàng sau khi đi qua và hoàn thành nhiệm vụ ,
trọn vẹn công cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc , thống nhất đất
nước .

Tiến sỹ khoa học –Trung Tướng Nguyễn khoa
Thịnh __ Người hướng dẫn tác giả học tập và nghiên cứu trên đại học
sau năm thứ 2 ĐH KTQS V.N trong buổi gạp mặt thường niên 4January
2015 .
NHỮNG NGÀY Ở CỤC VẬT TƯ TCKT
Sau khi tốt nghiệp, tôi về Hà nội __ Tổng cục kỹ
thuật và được điều động về Cục Vật tư – làm trợ lý Xây dựng nhà
máy , Cục Vật tư được tách ra riêng từ Cục Vật tư – Nhiên liệu do
Thượng Tá Trần Ngọc Giao làm Cục Trưởng và Trung Tá Ngô Kỷ là Phó
cục Trưởng . Tôi được điều động làm Trợ lý Xây dựng Nhà máy thuộc
Phòng Tổ chức – Kế hoạch Cục đóng
ngoài Thành _ Bưởi . Bấy giờ Cơ quan Cục nằm sát ven bờ Hồ Tây và
đang xây nhà làm việc trên mảnh đất mà tôi thấy phải di rời nhiều
ngôi mộ trên mảnh đất bé nhỏ nằm phía trong làng Đông Hồ , đi vào
Cổng Đông Thành qua một xóm và ngay sát bên một chùa Phật giáo có
chừng vài ba Sư Tiểu trụ trì . Tôi là người cuối cùng mang ba lô rời
Trạm 66 bấy giờ về Cục và là quân số thuộc biên chế sỹ quan Khoa
học kỹ thuật Hà Nội ; và tôi ở
Cục cho tới khi chuyển ngành về địa phương ra đi vì Hà nội không thể
đáp ứng điều kiện mẹ già, vợ dại ,con thơ của gia đình tôi, chỉ còn
duy nhất mẹ già có tôi là nơi nương tựa trong những năm tháng hưu trí
của bà .
Tôi về Cục làm trợ lý xây dựng nhà máy bấy giờ bộ
phận Kỹ thuật mới chỉ có tôi Thiếu úy và Đồng chí Hồ Ngọc An –
Trung úy trợ lý –Kỹ sư Xây dựng ; chúng tôi bắt đầu xây dựng và
chuẩn bị phương tiện , dụng cụ cho Thiết kế chủ yếu là bàn vẽ .
Bàn vẽ chính quy bấy giờ không dễ có như bây giờ , cục phải xin bên
Phòng Thiết kế cục Quản lý Xe , nhưng nặng nề không thích hợp , không
tiện lợi lắm , nên Phòng giao cho tôi thiết kế Bàn vẽ thích hợp hơn
bằng gỗ do bộ phận mộc của cơ quan đóng ; thế cũng là “vạn sự khởi
đầu nan “ Có lẽ Phòng muốn thử khả năng kỹ sư mới tốt nghiệp
của tôi . Tiếp theo vài tháng sau và lần lượt Bộ phận kỹ thuật mới
tập trung đủ quân số đáp ứng nhu cầu thiết kế một xí nghiệp Quốc
phòng nhỏ , đa năng có cống suất tiêu thụ năng lượng Điện 500 KVA .
chúng tôi cũng chỉ cần đến 2 bàn vẽ mới cùng 1 bàn vẽ đi xin về ;
Hai bàn vẽ do cục đóng cho chúng tôi còn gắn bó với các cô Thợ Can
và phòng chúng tôi cho tới khi tôi chuyển ngành . Bấy giờ , việc
thiết kế nhà máy được sự hỗ trợ của Các Giảng viên Trường Đại học
Bách khoa Hà Nội đem sinh viên năm cuối cùng sang giúp trong khi đóng
cửa tạm thời trường Đại học Bách khoa tại Hà nội để phục vụ quân
đội , bởi thế Các giảng viên là kỹ Sư Huỳnh Đốc và Phó Tiến sỹ
Dương Vân Đình sang cùng tôi thiết kế Hệ thống điện và nhà xưởng sửa
chữa . Khi trở lại học tập của nhà trường thì bộ phận chúng tôi đã
được thêm Đồng chí Lê Đình Tấn Kỹ sư cơ khí chế tạo , Đồng chí Vũ
Huỳnh Lương Kỹ sư Ô-tô và Đào Kim Chi Kỹ sư ô- tô đều tốt nghiệp từ
Trường Đại học Bách khoa Hà nội .
Sau này, khi đã
hoàn thành việc thiết kế và Thi công xây dựng xong nhà máy T 606 –
Kiêu Kỵ – PhúThụy đều do bộ phận kỹ thuật thiết kế và chỉ huy thi
công toàn phần không có lực lượng thi công ngoài Cục phối hợp hoặc
hợp đồng ; bộ phận chúng tôi đã có 5 kỹ sư và 2 Thợ Can đều chuyển
thành bộ phận kỹ thuật quản lý kho và rồi được bổ sung thêm 2 kỹ sư
được động viên vào quân đội năm 1971 và đi thực tế đơn vị 2 năm quay
về là Thiếu úy Đỗ Duy Long Kỹ
sư máy bốc dỡ Đại học Hàng hải ,
Hoàng Kim Ngọc Kỹ sư cơ khí chế
tạo Đại học Bách Khoa Hà Nội và Nữ Kỹ sư Linh kiện Điện Tử Nguyễn
Thúy Nga ; bảo đảm công tác thiết kế , kỹ thuật quản lý và theo dõi
kỹ thuật bảo quản ở các kho thuộc Cục Vật tư TCKT .
Do công tác kho
tàng phức hợp và phức tạp nên Phòng Quản lý Kho được thành lập và
bộ phận chúng tôi chuyển thành Phòng Quản lý Kho do Thiếu tá Nguyễn
Ngọc Cẩm – Phó phòng Tổ chức Kế hoạch sang làm Trưởng phòng ; đồng
thời điều động thêm cán bộ nghiệp vụ khác sang là làm trợ lý theo dõi về sổ sách và quản lý , cấp
phát tại các kho thuộc Cục . Sau
này theo chủ trương của Tổng cục , đưa mấy kho của các cục khác về
cục Vật Tư quản lý như : J. 112– Cục Quản lý xe và V. 30 ; công tác
quản lý kỹ thuật của Cục trở nên có nhiều vấn đề cần thiết và
phải quan tâm từ quản lý cho đến bảo quản , bởi hầu hết đều là máy
móc ,trang bị và vật tư phụ tùng ,linh kiện, bộ phận,tổng thành đòi hỏi phải nắm vững kỹ thuật mới
cóthể cấp phát tới các đơn vị công nghiệp quốc phòng của Tổng cục
cũng như quản lý tại kho tàng và như vậy công tác kho tàng trở thành
vấn đề kỹ thuật phức tạp trong giai đoạn cung ứng vật tư qua kho còn
cung ứng thẳng chỉ những thiết bị máy móc chuyên dùng của các Quân
,Binh chủng mà thôi .
Hơn nữa điều kiện
xuất nhập kho nhiều trang bị vật tư nặng nhọc cần và tiêu tốn nhiều
sức lực của bộ đội , năng suất
lại thấp kể cả công tác bảo quản những trang bị bộ phận nặng cũng
nặng nhọc ; cho nên công tác cải tiến và chế tạo trang bị cơ khí hóa
thay thế bớt hoặc giảm nhẹ sức người cũng trở thành nhiệm vụ của
phòng quản lý kho mà đảm trách là
‘Kỹ thuật và các Kỹ sư .
Công tác kho tàng
của Cục vật tư TCKT khá phức tạp bởi nhiều mặt hàng mà chủ yếu là
từ nước ngoài mua sắm về cũng như viện trợ qua đường dân sự cho quốc
phòng và trang bị nói chung , chỉ trừ vũ khí , đạn dược và thiết
bị chuyên tác chiến là thuộc cục Vật Tư Bộ Tổng Tham mưu ( Có một thời gian ngắn Phòng quản lý
thuộc Bộ Tổng Tham Mưu cũng chuyển về Cục Vật Tư TCKT sau rồi lại về
bộ tham mưu ). Trong khi đó hàng ngũ
cán bộ , bộ đội quản lý kho và cấp phát không có đủ khả năng trình
độ kỹ thuật nên Vật tư có trong kho mà chẳng hiểu là cái gì , để
mà làm gì , công tác bảo quản , nhà kho không đảm bảo và nhiều máy,
tổng thành để ngoài trời mưa nắng .
Có những tổng thành , trang bị màcán bộ cung ứng
chẳng biết cấp phát cho ai , cũng chẳng t6hấy trong kế hoạc cung ững
của một đơn vị nào Ví như : cung
ứng cho hay : Có nhiều Cáp cao thế không biết cấp phát đi đâu, anh xem
lấy bao nhiêu thì lấy . Tôi mừng quá và xem danh mục thì đó là Cáp
cao thế 6 KV dùng chôn xuống đất ,chống tác động môi trường và ngoại
lực ; tôi bèn xin cho đủ mọi đường cáp cung cấp cho các tủ phân phối
và lính về cho thi công .
Cũng như ,
trong thời gian chỉ huy thi công , tôi trở về Cục , sang phòng
cung ứng và gặp đồng chí Tiến Kỹ sư VTĐ Bách khoa Hà Nội phụ trách cấp
phát trang bị điện nói là có 5 Bảng điện , anh có lấy không ?
Tôi bụng bảo dạ : Bảng điện chắc to lắm chỉ bằng cái
bảng đen chứ mấy , mình cũng đang cần ; thế là tôi lấy và nói :
-Anh cấp cả cho nhà máy !
Thế
là trong tay tôi có lệnh xuất kho đưa cho giám đốc nhà máy để lĩnh .
Rồi một hôm tôi đang kiểm tra việc lắp đặt đường phân phối điện cho
các xưởng thì được một cán bộ cung ứng của nhà máy gặp tôi và bảo
:
-
Bảng điện xin lĩnh to quá, xe 3 tấn
và cần cẩu 3 tấn không bốc xếp và chở được anh ạ ! .
Tôi
ngạc nhiên và bảo : - để tôi sang xem .
Vì
kho lĩnh hàng ngay bên đường cách Ga Phú Thụy chừng 1 Km cách Kiêu Kỵ
chừng 3 Km , tôi đạp xe sang xem . Té
ra là 5 trạm phân phối điện trung chuyển Cao áp 11 KV đầy đủ nằm trong
hòm trên sân kho đã lâu lắm rối không ai biết là gì , chỉ xác định
là bảng điện mà thôi . Tôi mở hòm chui vào trong xem thì thấy cả xào
cao áp , có cả Ap-tô-mát điều khiển bằng mô tơ điện , nghĩa là nó đủ cho một buồng trung
chuyển cao áp, thiết bị không đến nỗi tồi . .
Tôi bèn bảo : Thôi không lĩnh nữa , vì
đây là thiết bị trung chuyển cao áp ; để tôi về báo cáo với Cục .
Hôm sau , khi bố trí công việc xong , tôi
đạp xe về Cục và báo cáo với Cục Trưởng trường hợp quản lý trang
bị này và đề nghị cho chuyển về kho khác , vì kho T-612 không có
chức năng dự trữ loại trang bị này
. Ít lâu sau , tôi được biết , nó đã được chuyển lên kho T-602 Phổ Yên – Bắc Thái .
*****
*
Trong Công nghiệp Quốc phòng , khái niệm
Vật tư khá rộng , để có thể mua sắm , cung ứng , nhất là cung ứng
qua kho thì vật tư được tiếp nhận về
nhập kho để quản lý rồi mới cấp phát theo Kế hoach cung ững
của Cục Vật Tư , vì vậy đòi hỏi các cán bộ cần có nghiệp vụ chưa
đủ và không khó lắm , nhưng cần hiểu biết kỹ thuật chuyên ngành và
đa ngành là vấn đề cơ bản . vì vậy chúng tôi phải liên tục hục tập
và tham khảo sách , tài liệu có trong Thư viện Khoa học –Kỹ thuật
Trung ương và mua những sách Kỹ thuật cần thiết cho một tủ sách riêng
mà bấy giờ sách tiếng Nga là chính , trong Thư viện cũng vậy .
Công việc của chúng tôi xem ra không hề
dễ dàng , những luận chững kinh tế , tổ chức kho tàng cũng như những
thiết kế trang bị, máy để giảm
bớt sức lao động và khắc phục sức nặng hàng hóa thường xuyên nằm
trong tư duy và công việc hằng ngày;nhưng việc thực hiện còn phụ
thuộc vào từng Kho , từng Chủ nhiệm kho mặc dù bản vẽ đã được in Ô
-dơ-lít ( bấy giờ in ô-dơ-lít là chủ yếu với mọi bản vẽ từ A0 đến
A4 ) .
Chính vì vấn đề kỹ thuật , cho nên có
khi Cục lên đơn hàng xin viện trợ qua con đường dân sự , hoặc mua sắm
theo kim ngạch được phân bổ , nếu không hiểu Kỹ thuật thì trang thiết bị , máy nhập
vrề sẽ bị cắt xén hoặc thiếu đồng bội , vì thế chúng tôi được
trưng tập cùng các kỹ sư của Phòng mua sắm lặ chọn và cùng nhau lên
đơn hàng gửi đi , công việc này khá phức tạp và đòi hỏi phải bảo
đảm tên gọi , ký , mã hiệu không chỉ bằng tiếng việt mà còn cần
song ngữ Việt Nga hoặc Việt –Pháp ,
cho nên hoàn thành nhiệm vụ của một trợ lý chúng tôi cũng mất nhiều
công sức học tập và học hỏi nghiệp vụ ngoại thương thời bấy giờ .
Nói chung công tác của Cục Vật tư TCKT
có bản chất Cung ứng vật tư Công nghiệp quốc phòng và thời bấy giờ
là cung ứng qua kho , hầu hết các
kho chịu trách nhiệm tiếp nhận về kho , xuất kho , bảo quản theo lệnh
xuất nhập từ Cục qua các phòng chuyên môn , trong khi đó các cán bộ
Kỹ thuật , kỹ sư không đủ cả về lượng cũng như về chất ( không tính
đến chất lượng chính trị ) , cho nên chúng tôi thường phải hỗ trợ khi
cần và như thế tôi cũng còn phải làm nhiệm vụ giám khảo thi nâng
bậc thợ của bộ đội , công nhân quốc phòng của từng Kho ,
****
Cục Vật tư TCKT trong chiến tranh chóng
Mỹ không phải đơn vị chiến đấu , cũng không phải xí nghiệp công
nghiệp quốc phòng mà đặc thù của
nó là Bảo đảm Vật tư Công nghiệp quốc phòng , trong khi khái niệm “
Vật tư “ không hề đơn giản mà bảo đảm Vật tư không hề phi kỹ thuật
chuyên ngành cũng như kỹ thuật có tính chất chung ; cho nên công tác
kỹ thuật của một cơ quan đầu não cung ứng vật tư cần có một cơ cấu và tổ chức như thế nào thì bấy
giờ chưa có một phương án , một mô hình nào , cho nên chúng tôi thường
chỉ biết làm việc mỗi khi có tình thế cụ thể mà thôi . Bên cạnh đó
việc xuất nhập kho những mặt hàng từ nhẹ đến nặng cần đến trang bị
cơ khí bốc xếp ta không có thì thiết kế chế tạo ; đồng thời việc
bảo quản hàng hóa nhẹ như giấp , nặng như thép ; đơn giản như chi
tiết máy , phức tạp như máy , tổng thành … Chúng tôi công tác trong
bối cảnh trao đảo theo từng tình thế .
Vào những thời kỳ kiểm kê kho tàng ,
sổ sách trên Cục có khi theo báo cáo dưới lên từ từng chủ nhiệm kho
, nhưng tên và mã hàng thì có khi không chính xác phát sinh chúng tôi
phải đi tới các kho để thẩm định mới có thể quản lý và cấp phát
chính xác theo nhu cầu xin cung ứng .
Trong một đợi kiểm kê, sau khi có báo
cáo từ kho vè cục , chúng tôi đi thẩm định lại thiết bị : Một thiết
bị
lạnh được báo cáo là máy làm đá chung chung
, nhưng đến khi tới kho T-602 kiểm tra thì ra lại là Tổng thành máy
lạnh lắp được trên ô-tô vận tải JIL của Nga ; chúng tôi yêu cầu lấy
một tổng thành và dùng tạm gỗ hòm đóng thành thùng kín cho chạy ,
quả nhiên cho chạy có kết quả lạmk
hết độ tới mức ra đá . Sự ấu trĩ về kỹ thuật trong công tác
quản lý tại kho làm cho công tác cung ứng trở thành bế tắc mà cần
đế kỹ thuật trong công tác này .
Lại một lần : Đồng chí Cục Trưởng Trần Ngọc Giao đi kiểm tra kho vàvề ,
vào phòng đưa cho tôi một tập tài liệu bằng tiếng Nga và yêu cầu dich
để chuyển tới kho . Tôi nhận nhiệm vụ và dùng Từ điển để dịch ,
thế ra là một tài liệu thuyết minh của
cái
gọi là :” Mốc Hạ Cánh Mò “ của bên Không quân .
Nói chung tôi và bộ phận kỹ thuật được
xem như một cánh tay kỹ thuật đa năng của Cơ quan Cục và các Thủ
Trưởng Cục .
******
October 26, 2015
Đỗ Thành Hưng
Truyện Hồi Ký
“SỸ QUAN BINH NHÌ"
PHÍ LÀM QUEN.
Vào học năm thứ ba,
đại đội 213 chúng tôi về đóng quân ở xã Văn Tiến, huyện Yên Lạc. Tôi đang ở độ
tuổi hai mươi, cái tuổi đã thích yêu và muốn được yêu nhưng còn nhút nhát lắm.
Vả lại cũng sĩ sĩ vì mùa đông có giày đen, áo bốn túi, nhìn ngoài ra dáng sỹ quan
thứ thiệt, lại đang học đại học, đâu dễ gì ai cũng làm quen được! Thời đó, tôi
cũng ý thức được rằng sinh viên đại học Kỹ thuật quân sự bọn tôi đắt giá lắm
bởi "trai thời loạn", mà "gái khôn tìm chồng giữa chốn ba
quân"! Nên cũng có chút kiêu kiêu với các em! Tôi và Ngô Gia Hồi không
phải là bạn thân vì khác lớp nhưng cùng lứa với nhau. Tôi biết Hồi có người yêu
tên Phương, học năm thứ nhất đại học Bưu điện, cách xã Văn Tiến chừng 5-7km,
nhưng tôi chưa có dịp được gặp người yêu của Hồi.
Vào một sáng chủ nhật
đầu đông se lạnh, buồn buồn tôi đạp xe đi lòng vòng tận hưởng cái khí lạnh đầu
mùa. Thấy hai cô gái đèo (chở) nhau trên chiếc xe đạp đi từ hướng trường Bưu
điện về phía huyện, tôi quay xe theo hướng hai cô. Một mình một xe, lại ở tuổi
"bẻ gãy sừng trâu”, chỉ vài phút tôi đã
đuổi kịp. Liếc nhìn
nhanh và thấy cô ngồi sau xinh xinh, có một nốt ruồi to bên má rất duyên...
Nhưng "sỹ quan" phải đứng đắn! “đâu dễ làm quen”. Tôi lạnh lùng vượt
lên trước, chừng hai, ba trăm mét lại thấy tiêng tiếc... Tới một ngã ba tôi
dừng lại, vẫn ngồi trên xe, tay vịn cây phi lao ven đường và quay đầu lại nhìn
phía sau như dáng chờ ai. Khi hai em gần tới, tôi kéo tay áo bốn túi xem giờ,
như khoe khéo với các em “anh có áo bốn túi, có cả đồng hồ polzot đây này!”,
rồi nghĩ cách bắt chuyện làm quen. Giả bộ không biết đường tôi hỏi:
- Đi thẳng có phải
đường về huyện không cô ơi!
- Dạ phải, anh cứ đi
theo bọn em!
“Được lời như cởi tấm
lòng”, tôi vội đạp xe theo hai em, có cớ đi cùng mà không sợ các em cười anh
"sỹ quan" này sỗ sàng quá! Không dám nhận là thổ địa, nhưng đường ở
huyện này tôi thuộc như lòng bàn tay, hỏi đường chỉ là kiếm cớ.
- Đây về huyện còn xa
không cô?
- Dạ chừng 5-6 cây số
thôi anh!
Thấy hai em vui vẻ
bắt chuyện, tôi tỏ ra ga lăng và hào hiệp, rồi chuyển sang xưng hô ngọt lịm:
- Còn xa, em sang tôi
đèo cho một quãng!
Các em đồng ý ngay.
Thế là em xinh xinh ngồi phía sau sang xe tôi. “Mục tiêu đã vào điểm ngắm!”.
Lần đầu tiên được đèo người đẹp đi chơi vào ngày chủ nhật giữa tiết trời se
lạnh, chú lính binh nhì thấy phấn chấn lạ thường!
Đạp xe đèo em mà thấy
nhẹ tênh, nhẹ hơn đi một mình mới lạ chứ! Một cảm giác lâng lâng như ngồi trên
gió, trên mây!
Rồi sự thân mật lại
gần, tôi biết em tên Hảo, cô bạn tên Lan, học năm thứ nhất trường đại học Bưu
điện, tôi liền nói dối tỉnh bơ:
- Anh cũng có em gái
họ tên Phương học năm thứ nhất trường Bưu điện, người yêu của nó là Ngô Gia
Hồi.
Tôi nói rõ như vậy để
các em biết Phương nào nếu khóa của các em có nhiều Phương, vì tôi không biết
họ tên đầy đủ của Phương. Cũng là để tăng sự tin tưởng cho các em ở lời nói dối
của mình. Hảo nói như reo lên:
- A. Thế ạ! Chị
Phương học lớp em. Chị ấy nói người yêu là anh Hồi đang học ở đại học Kỹ thuật
quân sự, đóng quân ở gần đâu đây. Nghe Hảo nói, tôi thấy vui vui. Vậy là các em
đã tin sái cổ tôi là anh họ của Phương rồi!
Tôi không dám nhận là
bạn học của Hồi vì như vậy em sẽ phát hiện đơn vị tôi ở quanh đây, việc hỏi
đường ban nãy là giả vờ trắng trợn! Rồi suy ra tôi nhận bừa chứ không phải anh
họ của Phương nếu tôi cùng học với Hồi. Thế rồi tôi cố ý đạp xe nhanh hơn để em
và tôi tách hẳn với người bạn cùng đi, tạo cơ hội nói chuyện riêng. Không nhớ
hồi đó tôi tán những gì mà có lúc em cười như nắc nẻ. Có vài lần em phải tì nhẹ
vào lưng tôi để ngồi cho vững! Tay lái của tôi sáng nay sao tệ quá, cứ thấy ổ
gà là không tránh được! Đã mấy lần làm em chao đảo, phải ôm nhẹ eo tôi! Chưa
hết những điều muốn tìm hiểu về em thì đã tới huyện rồi. Năm, sáu cây số sao
hôm nay ngắn quá! Hảo nói tôi đi chậm lại chờ người bạn đi cùng.
Qua cửa hàng ăn, hai
em rủ tôi vào ăn tạm cái gì đã. Chết cha rồi! Bảy cái túi "sỹ quan"
của tôi (bốn túi áo, ba túi quần) chỉ có năm hào bạc-tiền phòng hờ vá xe đạp,
lấy gì đãi hai em? Dù là bát phở bốn hào hay bánh rán một hào ba cái. Tôi nhanh
trí nói dối để đánh bài chuồn!
- Ấy chết! Anh có
cuộc hẹn làm việc với huyện đội mất rồi!
Tôi lại kéo tay áo
"khoe đồng hồ":
- Anh chỉ còn mười
phút thôi, các em cứ vào trước, xong việc anh ra ngay!
- Ơ, hôm nay là chủ
nhật cơ mà anh? - Lan nói có vẻ nài nỉ.
- Thời chiến, bộ đội
bọn anh đâu có chủ nhật như các em!
Nói xong tôi chào hai
em, rồi "sỹ quan" lủi mất! Đạp xe loanh quanh ở huyện đội chừng mười
lăm phút, lại thấy tiêng tiếc, bụng bảo dạ "không thể bỏ lỡ thời
cơ!", tôi liền quay lại cửa hàng ăn. Thấy hai em đang ngồi ăn phở, tôi đi
lại chào hai em và ngồi xuống ghế. Tôi bịa ra người cần làm việc với tôi bận,
hẹn nửa giờ nữa mới về.
- Anh ăn phở nhé! -
Em Hảo xinh xinh nói và định đứng lên.
Tôi nghĩ: "Chắc
em trả công đã đèo em 5-6 cây số đây, nhưng ai lại để cho em đãi mình, phải
ga-lăng chứ!". Tôi liền nói:
- Anh ăn sáng rồi, để anh xem có món gì ngon
nhất đãi hai em nhé!
Ấy là nói cho sang, chứ chả lẽ nói thật: Sáng
anh đã ăn cục mì luộc, nhân mọt ở nhà bếp rồi thì ngượng chết!
Nói rồi tôi ra quầy, đứng khuất sau quầy hàng,
sờ hết túi áo rồi túi quần, mãi mới tìm thấy tờ năm hào. Tôi hào phóng mua liền
chín cái bánh rán mất ba hào mang lại mời các em cùng ăn, còn hai hào để phòng
vá xe vậy!
Gọi là bánh rán cho oai, chứ chỉ là bột mỳ rán,
không có nhân, mỗi cái to bằng trôn bát ăn cơm! Thời đó ở cửa hàng ăn, mua cái
gì là "tiền trao cháo múc" và tự phục vụ nên tôi biết hai bát phở của
hai em ăn, các em đã trả tiền rồi. Đi ngoài đường đã nhìn thấy cái bảng đen
thực đơn của cửa hàng với dòng chữ nguệch ngoạc bằng phấn trắng to tướng trước
cửa:
"Có:
Phở-bốn hào,
Bánh rán-một hào ba cái."
Cửa hàng cũng chỉ có hai thứ đó nên tôi mới dám
mạnh mồm "xin đãi" hai em món ngon nhất!
Vừa ăn, tôi vừa tìm hiểu tiếp lý lịch trích
ngang của hai em. Hai em nhà ở Văn Điển, cùng học cấp ba trường Việt Ba (trường
PT Việt Nam Ba Lan hữu nghị)
Ăn đến cái bánh thứ hai thì một anh thanh niên
khá lịch lãm xuất hiện. Em Lan nói như reo:
- Anh Hiền! Anh ra đón bọn em hả?
Anh ta cười rất tươi, gật đầu. Thấy tôi ngồi
cùng bàn với hai em, nụ cười tươi trên đôi môi anh ta vụt tắt. Đôi mắt nhìn tôi
như muốn hỏi: "Mày là thằng nào vậy?"
Lan vui vẻ giới thiệu với tôi:
- Đây là anh Hiền! Anh trai em, phụ trách Bưu
điện huyện, là người...!
Lan bỏ lửng, liếc nhìn Hảo và giấu nụ cười...
tế nhị... Hảo có vẻ bẽn lẽn nhìn tôi. Thấy em gái xởi lởi, nét mặt anh ta tươi
trở lại.
Lan không giới thiệu tôi với anh của Lan, chắc
Lan không quen nói dối như tôi, vả lại có Hảo ngồi đây, nói dối làm sao được!
Chẳng lẽ Lan lại nói thật:
- "Con bò lạc" dễ thương này em vừa
bắt được ở dọc đường!
Lan không giới thiệu tôi với anh của Lan là
phải, để anh ta tự hiểu...
Tôi thất vọng và hơi ngường ngượng... Một làn
gió lạnh đầu mùa phả qua mặt làm tôi chợt tỉnh. Tôi bắt tay anh ta và nói vài
câu xã giao cho phải
phép. Bỏ giở chiếc bánh đang ăn, tôi viện lý do
phải đi làm việc và chào ba người rồi đứng dậy. Lan nhìn tôi ánh mắt như muốn
nói điều gì...
Đạp xe thật nhanh, tôi về thẳng nhà. Thế là mất
toi ba hào bánh rán! Lại phải còng lưng đạp xe mấy cây số đèo em. Đúng là
"dã tràng xe cát"!
Tôi tự an ủi: "Thôi, thế cũng còn may! Chứ
đúng dịp được về nhà mới lên, "sỹ quan" lần túi áo mẹ xin được một,
hai đồng thì hôm nay còn mất thêm tám hào-hai bát phở cho các em, chắc gọi là
"phí làm quen"! Mà tôi chưa bao giờ có ý thức và sẵn sàng cho loại
phí này ngoài phí vá xe đạp của mình!
Mất ba hào nhưng học được bài "phí làm
quen" cũng hay hay! Học phí bài này có khi là quá rẻ!
Cởi áo "sỹ quan" treo ngay ngắn trên
mắc, chú lính binh nhì ngồi ngắm áo rồi tủm tỉm cười một mình, thì ra...
"tuy một mà hai!".
5 Sài Gòn, 30/08/2013
Đỗ Thành Hưng,
(Học sinh trường Trỗi chúng tôi ba năm đầu binh
nhì-hai năm cuối binh nhất-ra trường không đủ một tuổi quân trước khi vào học
nên đồng loạt nhận chuẩn uý-một năm sau mới lên thiếu uý).
"SỸ QUAN BINH
NHÌ"
TRUY TÌM "ÔNG ANH HỌ".
Mải miết ôn bài để kiểm tra mấy môn học giữa
kỳ. Tôi đã quên dần chuyện "phí làm quen" của hai tuần trước. Sáng
chủ nhật, tôi mang xe đạp ra lau chùi rồi để ngoài sân cho khô ráo.
Ngồi bệt ở ngoài hiên, tôi ngắm xe xem còn chỗ
nào chưa vừa ý. Trời đã bắt đầu lành lạnh, từng cơn gió bấc nhè nhẹ tràn về làm
xào xạc hàng cau trước sân nhà. Bất giác tôi nhìn lên, mấy tàu cau non vươn
thẳng như đùa giỡn mỗi khi làn gió bấc tràn qua. Có tiếng chân đi từ ngoài ngõ
vào, nhìn ra tôi thấy Ngô Gia Hồi tới. Hồi lên tiếng:
- Hiền thế? Chủ nhật không đi chơi đâu hả Hưng?
- Lớp tớ đang ôn thi hết môn, tuần sau mới rảnh
ông ạ!
Hồi ngồi xuống cạnh tôi, hai thằng nói chuyện
tầm phào một lúc. Hồi khen xe tôi đẹp rồi đứng dậy ra cầm ghi đông lắc lắc,
búng búng mấy cái vào khung xe.
- Xe thống nhất loại một có khác, tiếng kêu
nghe trong ghê, xe chắc chắn thật. Xe của Hưng đăng ký ở Hà Nội à? Q-067 này!
- Ừ! Xe của ông "Khốt" để lại đấy,
ông ở Tổng cục chính trị mà! Thế xe của Hồi đâu mà đi bộ?
- Xe tớ hỏng líp chưa sửa được, cho tớ mượn xe
chạy ra chợ tí nhé?
- Ừ, đi đi!
Hồi nháy mắt chào tôi rồi dắt xe đi. Tôi vào
nhà lấy sách vở ôn bài. Mãi đầu giờ chiều Hồi mới mang xe trả. Hồi nói:

- Về lâu rồi, lúc sáng ra chợ Lồ mua con cá mấy
thằng tớ cải thiện bữa chủ nhật. Ăn rồi nghỉ trưa, bây giờ mới trả xe ông đây.
- Trả lúc nào chả được, mình có đi đâu đâu,
đang ôn thi mà!
- À Hưng ơi! Sáng chủ nhật tuần sau bọn mình đi
xuống trại cá giống xem cá chép đỏ, chép vàng cực đẹp. Có con hơn hai ký lô ông
ạ.
- Ông nói sao chứ làm gì có cá chép màu đỏ, màu
vàng? Từ bé tới giờ tớ chỉ thấy cá chép đen trắng, chưa thấy cá chép màu bao
giờ.
- Ở Trung Quốc tớ thấy đầy! Trại cá mới mang
giống về đấy.
Rồi Hồi khích tôi:
- Phải "đi một ngày đàng mới học được một
sàng khôn" ông ạ!
- Ừ! Đi thì đi, có xa không?
- Đạp xe không quá nửa tiếng.
- Đồng ý! - Tôi trả lời quả quyết.
Hồi chào tôi rồi ra về.
Đúng hẹn, Hồi đạp xe tới rủ tôi đi. Mỗi thằng
một xe, chúng tôi đi về phía cuối xã rồi lên đê sông Cà Lồ, cứ đi dọc theo đê,
tôi và Hồi đi song đôi, vừa đi Hồi vừa kể về mối tình của Hồi và Phương.
Bây giờ tôi mới biết bố của Hồi và Phương là
bạn chiến đấu thời chống Pháp. Hai cụ là bạn tù, đã mấy lần vào tù, ra khám.
Sống chết có nhau, tình đồng chí, đồng đội đã gắn kết hai cụ còn hơn anh em
ruột thịt. Hai cụ đã hứa với nhau sẽ là thông gia nếu còn sống trở về. Tình yêu
của Phương và Hồi là kết tinh của tình đồng chí, đồng đội thuỷ chung, son sắt,
của những con người quả cảm, một lòng vì cách mạng. Một mối tình quá đẹp và
đáng trân trọng biết bao.
Vừa tò mò, vừa cảm động khi nghe Hồi kể về tình
yêu của mình. Tôi thầm cầu chúc cho tình yêu và hạnh phúc của hai bạn sẽ đơm
hoa kết trái, mãi
mãi dài lâu, thuỷ chung như tình đồng chí, anh
em của hai cụ.
Mải nghe chuyện của Hồi, hai chúng tôi tới một
làng ven đê mà tôi không biết là đâu. Tôi hỏi Hồi:
- Đi đâu nữa? Còn xa không Hồi?
- Đến rồi! Chỗ hàng cây dâm bụt đó.
Hồi nói rồi chỉ tay về phía trước và tủm tỉm cười. Tôi chột dạ:
- Mày đưa tao đến chỗ Phương phải không?
- Ừ! Chủ nhật đi chơi một tí cho thoải mái, chứ
mày cứ ru rú xó nhà học suốt nó mụ đầu ra đấy.
- Nhưng chiều mai lớp tao phải thi môn nguyên
lý máy, tao ôn chưa xong.
- Vào chơi một chốc, chừng một tiếng là về,
được không? Thôi vào đi!
Hồi đẩy tôi đi trước. Thế là tôi rơi vào thế
"chẳng đặng đừng" không thể thoái lui. Tôi linh cảm thấy có gì đó
không bình thường. Tôi nghĩ thầm: "vào thì vào, sinh viên đại học Kỹ thuật
quân sự có ngán gì! Cần thì giở bài "cuội" là xong!". Hai chúng
tôi dắt xe vào, dựa xe bên gốc cây cau trước sân. Trong nhà, hai em chạy ra, em
ra trước có vẻ lễ phép:
- Em chào anh Hồi!
Rồi khẽ gật đầu, lý nhí chào tôi. Cô bạn ra sau
tươi cười, niềm nở:
- Em chào anh Hưng!
Em không chào Hồi mà chỉ nhìn âu yếm rồi đon đả
mời hai anh vào nhà. Thấy thái độ hai em khác nhau, tôi nhận ra ngay em ra sau
là Phương. Cái cảm nhận đầu tiên của tôi khi gặp Phương: Phương là một người
con gái đẹp, một cái đẹp rất thánh thiện. Từ phong thái, lời nói và con người
Phương toát ra một sự đài các, kiêu sa nhưng kín đáo, thông minh và lanh lợi.
Tôi mừng cho Hồi có người yêu là một cô gái "tài sắc vẹn toàn".
- Anh Hồi pha nước cho em đi! - Phương giục
Hồi.
Tôi tìm cách chủ động cho lần gặp gỡ đầu tiên:
- Phương ở đây có hai chị em thôi à? Bác chủ
nhà không có nhà hả Phương?
- Vâng! Mỗi nhà chúng em ở có hai đứa. Hai bác
chủ nhà ra đồng cả rồi. Mà sao anh Hồi chưa giới thiệu, anh đã biết em là
Phương?
Tôi lên giọng kẻ cả, tỏ ra người sành sỏi ngoại
giao:
- Nhìn thái độ là biết chứ cần gì phải giới
thiệu!
- Các anh tinh thật đấy. Sinh viên đại học kỹ
thuật quân sự có khác!
Tôi thấy vui vui trước lời khen có vẻ thán phục
của Phương và thầm nghĩ:
đấy là em chưa biết tài bẩm sinh của tôi là
"nói như cuội". Em mà biết thì phải phục lăn chứ chẳng chơi!
Hồi mang nước ra bàn và chúng tôi ngồi uống
nước. Tôi và Hồi ngồi một bên, Phương và bạn ngồi một bên. Phương giới thiệu
bạn của mình rồi giới thiệu tôi với cô bạn của Phương. Qua mấy câu chuyện tầm
phào, nửa thân mật, nửa xã giao, Phương nhìn Hồi và tôi rồi nói:
- Bọn bạn em đứa nào cũng ngưỡng mộ sinh viên
đại học kỹ thuật quân sự lắm đấy. Chúng nó cứ tị với em "Phương may mắn có
anh Hồi", cậu nhớ giới thiệu cho bọn này làm quen với bạn anh Hồi nhá.
Nghe Phương nói, sự kiêu hãnh dâng tràn trong
tôi. Còn Hồi không nói gì, chỉ cắn hạt dưa và tủm tỉm cười. Phương nói tiếp:
- Mấy tuần trước em có hai đứa bạn đi chơi về
khoe: bọn tớ xuýt "tóm" được một anh bộ đội "sỹ quan" hẳn
hoi, trẻ, đẹp trai, da trắng, cao cao, môi đỏ tươi như môi con gái, nói chuyện
dẻo như kẹo. Nhưng chưa đâu vào đâu thì anh ta chạy mất. Tiếc ơi là tiếc!
Nghe vậy tôi hơi giật mình, chả lẽ là chuyện
của mình...? Tôi trấn tĩnh để
đáp lại lời Phương.
- Bộ đội thì đầy, sinh viên bưu điện nhặt đâu
chẳng được!
- Ứ!... Không dễ đâu anh, phải là bộ đội đại
học như các anh cơ. Em nghe anh Hồi em kể về anh và mấy anh nữa, em kể lại cho
chúng nó nghe, chúng nó khoái lắm, cứ đòi được làm quen với các anh đấy.
Tôi giả bộ khiêm tốn:
- Bọn anh toàn những đứa dở hơi thôi em ạ, quen
làm gì!
Nói rồi chúng tôi cùng cười. Phương bảo bạn:
- Loan ơi! Cậu lấy bánh mời anh Hồi và anh Hưng
ăn đi, quên mất!
Phương lấy kéo, vừa nói chuyện vừa cắt đôi từng
chiếc bánh rán ở trong đĩa.
Thấy đĩa bán rán tôi đã nhột nhột... Phương
tiếp:
- Bánh rán bột nếp nhân đậu xanh hẳn hoi. Em và
Loan vừa làm sáng nay để đãi hai anh đấy!
Nhìn những chiếc bánh rán vàng ươm, nhân đậu
xanh vàng tươi mà tôi đã thấy thèm quá, cố giấu nước miếng bằng cách uống ngụm
trà để khoả lấp.
Tôi nghĩ: "Ước gì được ăn rồi nói chuyện
gì hãy nói thì tuyệt biết bao nhiêu".
Phương lại tiếp:
- Em nghe anh Hồi nói anh Hồi và anh Hưng thân
nhau lắm?
Chả nhẽ lại trả lời Phương là: "Không thân
lắm đâu vì khác lớp". Tôi ừ đại cho xong:
- Ừ! Bạn học với nhau thì phải thân rồi!
- Đã vậy anh đồng ý cho em coi anh như người
anh trong nhà nhé?
Tôi chưa biết trả lời ra sao, thôi thì cứ ừ bừa
đi để chóng được ăn bánh đã, có gì tính sau.
- Sợ em chê, chứ được anh Hồi đồng ý thì anh
giơ cả hai tay!
Phương hỏi Hồi:
- Anh Hồi đồng ý nhé?
Hồi cười rồi gật đầu.
- Đấy nhá! Anh Hồi đồng ý rồi. Em coi anh Hưng
như người anh em họ được không?
Nghe vậy tôi thấy có gì đó không ổn rồi, chắc
tôi đang bị giăng bẫy? Chưa biết nói sao thì Phương đã cắt xong bánh, Phương
đặt đĩa bánh giữa bàn, tươi cười nhìn hai chúng tôi:
- Em mời anh Hồi, em mời "anh họ" của
em ăn bánh! Bánh rán bột nếp chắc chắn ngon hơn bánh rán của cửa hàng đấy!
Tôi nghe mà ngỡ ngàng, sững người! Chết tôi
rồi! Phương đã biết hết mọi chuyện của tôi mấy tuần trước nên Phương đã chủ
động làm bánh rán đãi tôi. Vậy là tôi đã bị Hồi và Phương cho vào bẫy mất rồi!
Cầm miếng bánh Phương đưa mà tôi không biết làm gì, chỉ còn thấy mùi thơm của
bánh rán toả ra. Tôi đỏ mặt vì xấu hổ. Nghĩ tới câu chuyện "cuội" của
tôi mấy tuần trước, nay Phương đã biết tỏng rồi! Thấy tôi ngồi ngây ra, Phương
giục:
- Kìa anh Hưng, ăn bánh đi anh!
Tôi ngượng ngùng cắn một tí, chẳng còn thấy cái
thơm, cái ngậy, cái ngọt của bánh rán nếp là gì.
Tôi trở nên đần độn, vụng về, chưa biết cách gì
đối phó. Cái kiêu hãnh của tôi tan biến đâu rồi? Tài bẩm sinh "cuội"
của tôi cũng không kịp chỉ đường mách lối. Phương và Hồi thấy tôi ngồi ngây ra,
hết đường chống đỡ. Chắc không nhịn cười được nữa, Phương và Hồi cùng phá lên
cười làm tôi càng xấu hổ và lúng túng. Hồi ôm lấy tôi vừa cười vừa nói:
- Bọn tớ đùa tí thôi, tuổi trẻ mà, phải thế mới vui, đời sinh viên đang đẹp ông
ạ!
Tôi xấu hổ nhưng không biết chống chế thế nào
nên cũng phải cười theo. Em Loan cũng cười chúm chím. Rồi chúng tôi ăn bánh,
hỏi chuyện học hành của nhau. Thấy đã lâu lâu, tôi bấm Hồi, Hồi nói:
- Thôi! Bọn anh về đây! Mai có kiểm tra phải về
ôn bài, lần khác tới chơi lâu hơn nhá!
Phương vẫn chưa tha cho tôi. Phương hỏi:
- Anh Hưng ơi! Mấy giờ rồi anh?
Trong khi trên tay Phương cũng có đồng hồ. Tôi
không dám kéo tay áo bốn túi xem giờ như mọi khi mà trả lời phỏng chừng để đối
phó:
- Chắc gần mười giờ rồi còn gì! Bọn anh về nhá!
Phương tiễn hai chúng tôi lên tận bờ đê mới
chia tay. Phương còn lèo thêm một câu như cảnh cáo:
- Anh Hưng biết trường Việt-Ba không? Tiếc quá!
Hôm nay hội trường, Lan và Hảo về dự rồi, không tới chào anh được. Hẹn lần sau anh
Hưng nhé!
Đường khó đi, hai anh đi cẩn thận, không rơi
xuống ổ gà là ngã đấy!
Nói xong, Phương cười rất tươi, vẻ đắc thắng,
rồi giơ tay vẫy vẫy và gật gật đầu tạm biệt, nửa như chọc tôi, nửa như khuyến
khích...
Tôi đỏ mặt, cười trừ rồi chào Phương.
Trên đường về tôi trách Hồi:
- Ông chơi tôi ác quá! Làm tôi chết đứng, không
biết ứng phó, xoay sở làm sao!
Hồi lại cười phá lên và nói:
- Chuyện vui, đời sinh viên mà! Có gì đâu! Có
khi lại là một kỷ niệm đẹp đấy ông ạ!
- Thế sao Phương biết chuyện này của tớ? Tớ đã
kể cho ai nghe đâu?
không có anh họ nào là bộ đội ở độ tuổi hai
mươi, hai mốt như các em tả.
Tụi sinh viên nữ nó tinh lắm. Nó nói với
Phương: nhìn anh ta bọn mình đoán ngay là bộ đội học trò rồi! Dù khoác cái áo
bốn túi nhưng không che được cái mặt búng ra sữa! Da dẻ thì trắng, môi đỏ
tươi,... chắc chắn là bộ
đội trong nhà chứ không phải là bộ đội ngoài
trận địa dãi nắng, dầm mưa.
Bọn mình đang nghĩ cách làm quen thì anh ta lại
làm quen trước. Nhận là anh họ của Phương, lại không nói đủ họ tên em gái nhưng
biết rõ người yêu của nó là Ngô Gia Hồi, thì chắc chắn là cùng học với anh Hồi
rồi! Chúng tớ biết thừa anh ta hỏi đường là kiếm cớ làm quen. Chứ bộ đội
"sỹ quan" gì thời chiến mà lại không biết đường từ nơi đóng quân về
huyện? Quần áo thì sạch sẽ, mới toanh, giầy đen bóng loáng! Chủ nhật chắc đi
chơi đây! Được cái nói năng lưu loát, dễ thương! Lúc anh ta từ
chối vào ăn là tớ biết anh ta kiếm cớ chạy làng. Cơ quan huyện chả ai làm việc
ngày chủ nhật, trừ người trực. Mà trực để giải quyết việc quân sự thời chiến.
Anh ta thì đi tay không, ăn mặc tươm tất như đi dạo phố! Cái mặt thì non choẹt,
nhìn là biết không phải lính trận mạc rồi! Nhưng anh ta cũng khôn, biết để ngỏ
cửa còn quay lại: " xong việc anh ra ngay"! Vào cửa hàng ăn, tớ và
Hảo bảo nhau: "chỉ tí nữa thôi là anh ta quay lại đấy!" thì y như
rằng...!
Lúc anh ta ra quầy, lại đứng khuất sau quầy
hàng, mình lén ra coi thấy anh ta đang lục túi tìm tiền, nhìn mà buồn cười quá!
Về bàn ngồi, mình nói với Hảo:
- Mình sắp được ăn bánh rán mì rồi!
Một lúc sau anh ta hồ hởi mang mấy cái bánh rán
vào. Bọn mình cứ để yên xem anh ta diễn tới đâu...Thì ra sinh viên đại học kỹ
thuật quân sự cũng ngù ngờ, nhút nhát thật Phương ạ! Thấy anh ta có vẻ có cảm
tình với Hảo, khi anh Hiền mình tới, mình nói bỏ lửng một câu thăm dò bản lĩnh
anh ta, thế là "thần hồn nát thần tính", anh ta tìm cớ thối lui. Mình
định nói là đùa để anh ta khỏi sợ, chưa kịp nói thì anh ta đã đứng dậy bỏ chạy
mất tăm! Anh Hiền đã gần bốn mươi rồi mà anh ta không biết suy luận gì cả, là
người... anh cả hay anh hai, anh ba của tớ thì sao? Nhưng anh ta quên mất rằng
cái xe đạp thống nhất, biển số Q-067 là "dấu lông ngỗng" của
"chàng Mỵ Châu" còn để lại! Cậu nói anh Hồi tìm bằng được "ông
anh họ" của cậu cho chúng tớ nhé!
- À...! Ra thế! Nên chủ nhật trước ông xăm soi
biển số xe rồi mượn xe tôi phải không? Nói dối là đi chợ!
Hồi cười to:
- Chứ gì nữa! Tớ đạp xe xuống chỗ Phương, hai
em Hảo và Lan thấy xe ông là cười ngất vì tớ tóm được "cuội" rồi!
Tôi lại trách Hồi:
- Biết được rồi thì thôi! Sao hôm nay ông lại
"giải" tôi đi gặp Phương mà không nói trước? Để chịu thất thủ ngay từ
cú ra đòn đầu tiên của Phương, mình không nói gì được!
- Nói trước để ông từ chối à! Phương nhất định
bắt tớ phải tìm cách "dẫn giải" ông tới để Phương xem mặt "ông
anh họ" đẹp trai cỡ nào mà Lan và Hảo nó khen nức nở! Nhân tiện xem
"tài" ứng phó của "cuội" ra sao đấy!
Thế mà bấy lâu nay tôi cứ tưởng bọn sinh viên
đại học kỹ thuật quân sự chúng tôi là nhất! Các em chỉ là những cô "cừu
non". Dù nói thật hay "cuội" thì các em cũng tin sái cổ! Thì ra
bọn tôi mới là những "chú cừu" ngù ngờ nhất! Bấy lâu nay chỉ toàn tự
huyễn hoặc mình, tự kiêu, tự đại trước các em.
Tôi hỏi Hồi:
- Sao các em mới học năm thứ nhất mà tinh ranh,
sắc sảo vậy Hồi? Họ phân tích và nhận định về chỗ sơ hở của tớ là quá đúng!
Mình không thể ngờ được mình sơ hở như vậy!
- Ông ơi! Va chạm cuộc sống thì các em là năm
thứ ba, thứ tư đấy. Bọn mình mới là năm thứ nhất thì có! Đây nhá: bốn, năm năm
nay, bọn mình ở trường quân đội, toàn ở rừng, ở rú, có được thường xuyên tiếp
xúc với cuộc sống đâu. Nghỉ phép một tháng, chưa kịp hết nhớ mẹ thì lại về
trường rồi. Những bài diễn của ông hôm trước là xưa rồi! Đó là bài của mấy cậu
học sinh đang tập toẹ! Bọn con gái nó tinh ranh hơn bọn con trai tụi mình
nhiều! "Nhìn mặt" là họ "đặt được hình dong" ngay. Không
"cuội" được đâu!
Tôi gãi đầu và tiếp lời Hồi:
- Ừ! Thảo nào bây giờ tớ mới biết có cả
"phí làm quen"! Đúng là mình khù khờ, ngớ ngẩn thật!
Nói rồi hai chúng tôi cùng cười.
Ngày tháng trôi qua, vào năm thứ tư chúng tôi
lại chuyển đi nơi khác. Mải mê vào học những năm cuối, rồi thi tốt nghiệp-ra
trường mỗi đứa một nơi- chiến tranh-khó khăn trong cuộc sống-lại khác ngành
nghề-rồi lo công, lo việc-lo gia đình, tôi và Hồi, Phương không có điều kiện
liên lạc gì với nhau nữa. Bốn mươi lăm năm sau, viết lại kỷ niệm này, tôi
nhớ tới họ và liên lạc qua điện thoại. Gặp Phương. Nghe tôi tự giới thiệu về
mình, Phương nhận ra ngay. Kỷ niệm cũ ùa về, vẫn với giọng cười hồn nhiên và
tinh quái, dù đã ở cái tuổi lưng còng, tóc bạc, răng long cả rồi! Chúng tôi ôn
lại kỷ niệm thời sinh viên hồn nhiên, ngây ngô và ấu trĩ... nhưng thật đáng
yêu, đáng nhớ!
Phương hứa sẽ chuyển lời hỏi thăm của viên
"sỹ quan binh nhì" "thích ăn
bánh rán"năm xưa tới Hảo và Lan ở lần họp
lớp tới. Nói lời tạm biệt, dù giọng nói không còn trong trẻo, tròn trịa như
xưa, nhưng Phương vẫn không quên chọc tôi:
- phem phào "phông phanh phọ" phủa
phem!
dịch là: - em chào "ông anh họ" của
em.
Sài Gòn, 18/09/2013
Đỗ Thành Hưng, B5-C213
_______________________________________.
Ký ức thời gian .
Thursday, April 2, 2015
Đỗ Đăng Đích
Tháng tư__Dấu
ấn lịch sử của Dân tộc Việt Nam ta , non
sông thu về một mối .
Những ngày này , đầu tháng của hơn 50 năm về trước ,thời
gian là đã trên nửa thế kỷ , nhưng vẫn còn không phải và gần như kéo ta về những năm tháng tuổi trể thơ mộng
đầy ước mơ hoài bão .
Có ai nhớ về những
ngày tòng quân vào Hải quân Việt Nam quá
non nớt và những người thủy thủ cũng quá non nớt thơ ngây , có lẽ người ta bắt
đầu bộ quần áo lính và ngày tòng quân trong thời thanh bình cũng bình thường ,
còn tôi không bình thường như người ta .
Những dòng viết vội
này để mà nhớ lại một thời xa xôi , thanh bình và nghèo nàn trong cái nghèo nàn
của Đất Việt vừa qua ách thống trị của đế quốc mới chỉ trên nửa phần đất nước ,
nhưng người Việt sống trên miền Bắc bộ đã thấy tương lai và sung sướng dù trong
chân thanh niên chỉ là đôi guốc mộc và bộ quần áo mới chỉ là vải nâu xồng nhuộm
màu nâu – áo bà ba với mọi nhà , có cái áo như
hôm nay tựa như nay ăn Yến
xào thượng hạng vậy
Cuối tháng 3 - 1962
, tôi được báo tin đi bộ đội nghĩa vụ , vào thời điểm ấy chính phủ đã có lệnh
các Cơ quan ,xí nghiệp không có quyền giữ cán bộ công nhân viên lại mà ai được
gọi nghĩa vụ quân sự đều phải chấp hành , bởi thời kỳ thí điểm đã qua . Khi ấy tôi vừa học xong lớp Thợ Tiện
của bộ công nghiệp nhẹ ___ Trường công nhân Cơ điện mở tại nhà máy liên hợp Dệt
Nam Định , tuy đang còn trong thời gian hưởng lương quy định chưa xếp bậc thợ
theo quy trình đào tạo , tôi đã được giao nhiệm vụ tổ phó Sản xuất xưởng Tiện
cơ khí Dệt Nam Đinh ;được gọi nhập ngũ nhà máy cơ khí cho nghỉ phép và đi chào hỏi chia tay các bác thợ
già , bạn thợ trẻ , Tôi chia tay các bác thợ mà tôi đã dạy bổ túc văn hóa cũng
như các bạn cùng lớp bổ túc cấp 3 và lớp học Chính trị lớp B , nhận những cuốn
sổ quà lưu niệm trước khi rời xa nhà máy
vào quân đội . Sau nghỉ phép tôi đến
nhà máy để đến nơi giao quân , nhưng lại được lệnh hoãn mấy anh em chúng tôi có
3 thợ tiện , một thợ nguội cùng một thợ xưởng thoi suốt , thay chân chúng tôi
là mấy người khác trong cùng nhà máy cơ khí .
Chiếc ô-tô Hải Âu
bấy giờ chở công nhân ở xa đi về , đưa quân đến nơi giao nhận __ Nhà hát nhân
dân gần đó . Mấy anh em chúng tôi được
giữ lại không đi với thông báo : Đơn vị
lấy quân họ không về nhận quân ; dù nghe vậy chúng tôi vẫn lên ô-tô đến nơi
giao quân .
Đến nơi chúng tôi
được biết Các cán bộ của Hải quân về nhận chúng tôi nhập ngũ , không phải như
nhà máy thông báo . mấy anh em chúng tôi bực bội vì bị lừa và hơn nữa mọi việc
chia tay đã chắc chắn để đi làm nghĩa vụ quân sự ,không thể ở lại và chúng tôi
quyết định nhập ngũ .
Sau khi biết chúng
tôi quyết định đi , Bí thư Đảng ủy ra can thiệp với Chính trị viên phó tiểu
đoàn huấn luyên đi nhận quân , thương lượng nhưng Hải quân quyết không nhận
người thay thế nghĩa vụ , bí thư đành đồng ý để một thợ tiện , một thợ nguội
nhập ngũ ; còn tôi thợ tiện – tổ phó sản xuất bé nhất trong 3 thì cả Bí thư và
Chính trị viên đều không thể nhất trí,
Chính trị viên quyết lấy đi , Bí thư quyết giữ lại ; đi hay ở
; cuối cùng ông Chính trị viên và bí thư đồng ý đi hay ở là do tôi quyết
định . Tôi đã sẵn sàng đi làm nghĩa vụ quân sự rồi về tiếp tục học tập và lao
động cho dù phải phục vụ 4 năm dài hơn 2 năm so với Bộ binh .
Nhà hát nhân dân nơi
trao nhận quân nghĩa vụ đã không còn ai , đã nhận quân xong , chỉ còn tôi và
Chính trị viên cùng Bí thư , bấy giờ tôi đã sẵn sàng từ khi đến xưởng với vài
cuốn sách mguyên lý triết học và sổ tay toòng teng trong túi lưới ni-lon , Ông
Chính trị phó tiểu đoàn huấn luyện có xe đạp chở tôi đến nơi nhận quân phục .
Về đến nơi nhận quân phục chỉ còn mình tôi nhận bộ quân phục , giày mũ cuối
cùng để chuẩn bị sớm hôm sau hành quân , đi đâu chúng tôi cũng không biết .
Về sau tôi biết , Mẹ
tôi buồn lắm , Người chỉ biết nằm khóc .vì chỉ mình tôi là con trai mà bấy giờ
người ta thường gọi là nhà con một , đi nghĩa vụ tới 4 năm mới về và 2 năm sau
mới được phép thăm nhà , nghỉ phép .
Vào những năm
62 tàu hỏa chỉ vào đến bên đây phà Lèn
vì chưa có cầu Hàm Rồng , nên chúng tôi qua phà Lèn và bắt đầu 12 ngày đêm hành
quân bộ dọc quốc lộ 1 trong nắng tháng 4
để vào Nghệ An và trú quân trong nhà dân bên sông Lam , bên quốc lộ 8
sang Lào để huấn luyện bộ binh và chuyên môn trên tàu Tuần la Hải Quân .
Thấm thoắt
trôi đi đã không phải 4 năm , mà cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc tiếp tục với
cuộc chiến tranh chống Mỹ , thống nhất đất nước đến 30 tháng 4 -1975 đã gấp hơn 3,4 lần nghĩa
vụ người lính thủy trên tầu và Tôi đã
gắn đời mình vào Binh Nghiệp __ Sỹ quan __ Kỹ sư quân sự Việt Nam .
Một năm huấn luyện
vất vả trôi qua , lại trong những ngày tháng Tư , hơn mười anh binh nhất chúng
tôi được phân phối ra căn cứ 1 miền bắc vì chúng tôi được huấn luyện ở Căn Cứ 2
Hải Quân nằm trong làng dân nằm cạnh quốc lộ 8 sang Lào __ Hưng Nguyên Nghệ an
.
Chúng tôi về Hải
phòng và rồi mỗi người xuống những con tàu khác nhau hoặc ở trên bờ sở chỉ huy
các phân đội khu Tuần Phòng Hải Phòng .
Tôi và vài đồng đội nữa được phân về đơn vị vận tải biển và chờ thuyền tạm ở
trên bờ bên Thủy Nguyên Hải Phòng __- Một cảng nhỏ đối diện Nhà máy xi- măng
bên bờ Sông Cấm , ra Bến Phà Bính phải đi dọc đê vài ba Km ; bấy giờ cảng nhỏ
này chỉ có các xuồng nhỏ và chiếc tàu há mồm của Pháp để lại mang số 407 ___
Cảng và sở chỉ huy của Đoàn tàu không mang số hiệu __ Đoàn không số . Mấy anh
em chúng tôi ở bờ đợi tàu nên vẫn được
chế độ ăn Hải táo của lính dưới thuyền tuy nhên thấp hơn đồng đội ở tàu tuần la
79 . chúng tôi đợi tàu và tập chống say sóng với các dụng cụ đơn giản như vòng
lăn , cầu sóng và thể dục chống sóng để chuẩn bị đi biển trên những con tàu sẽ lênh đênh trên
biển . Chúng tôi cũng chờ nhận nhiệm vụ cơ điện tàu vận tải mới không phải tàu
tuần la tốc độ cao mà là tàu nhỏ vận tải máy và hệ thống điện sẽ được học bổ túc , đồng thời được phổ biến những yêu
cầu khi đi làm nhiệm vụ và chúng tôi ra phố Hải Phòng được mặc thường phục .
Khoảng thời gian của
Tháng Tư bắt đầu mùa hạ , Thành phố Cảng
với chúng tôi trở nên thân thiết , là Thủ đô của chúng tôi , bến bờ . mái nhà
trên đất liền của chúng tôi , chúng tôi đinh ninh như vậy . Hải phòng trong
những ngày thanh bình phố xá đông vui , chúng tôi vô tư hòa vào dòng phố thanh
niên trong chiều thứ 7 , Chủ nhật cũng vô tư với những bản nhạc La Paloma vang
trên trước cửa các rạp chiếu phim lớn . Đường
phố Hải Phòng đầy tiếng nhạc và thời gian ấy chỉ Hải Phòng mới đủ các
loại sắc phục của lực lượng vũ trang Hải lục không quân và bộ đội biên phòng .
Tháng 4 Hải Phòng
rộn rã , Trên Cảng vắng , tôi được giao nhiệm vụ trong khi chờ tàu là lái xuồng
gỗ gắn máy đẩy đưa các cán bộ chỉ huy đi ngang Sông Cấm sang Bộ Tư lệnh mỗi khi
các Thủ trưởng đi họp . Rồi những ngày tháng 4 chờ tàu , tôi lại được cử về Hà
Nội để học văn nghệ phục vụ cho quân đội thời bình và các đoàn công tác trong
quân đội thời bình . Tôi cũng không hề
nghĩ đến sẽ được về Thủ đô HANOI .
Rời Hải phòng về Hà
Nội học tập ít ngày , tôi được lệnh tập kết tại sân bay Bạch Mai . Đến HÀ NỘI
tôi đi bộ đến sân bay Bạch Mai bấy giờ nằm sâu trong phần đất xa mặt đường phố gần ngay phi trường bỏ hoang cỏ
mọc có mấy gian nhà trống , về đây tôi gặp lại vài đồng chí cùng huấn luyện tân
binh ở miền trung ra . Dưới nắng chang chang của tháng tư , trong lòng sân bay
Bạch Mai bỏ hoang , một lớp lính chúng tôi , toàn là binh nhất , hạ sỹ của toàn
quân được tập trung và ngủ trên những tấm phản cá nhân , bữa cơm mang bát đến
nhà ăn tạm với chế độ đại táo trên bờ và học cho thuộc Hai bài hát “ Giải phóng
Miền Nam “ của Huỳnh Minh Siêng và bài “ Cờ Ba nhất “ , cộng vào đó là học Sáng tác Múa Tập thể ;
giáo viên là các anh chị lớn tuổi hơn chúng tôi ba bốn tuổi , chúng tôi cũng
không biết Họ từ đâu đến , nhưng đều là những diễn viên ca hát , sân khấu và có
chị nói là học ở Liên –xô ( CCCP ) tới 6,7 năm , Lớp học chỉ chừng hơn vài
tháng và nhiệm vụ của chúng tôi về đơn vị sáng tác những điệu máu tập thể để bộ
đội sinh hoạt văn hóa của bộ đội thời bình , đồng thời phổ biến , lan tỏa bài
ca chính thức của “ Mặt trận giải phóng “ là bài “ Giải phóng Miền Nam “ . .
Chúng tôi được học
chính là những động tác Cơ bản cho sáng tác múa tập thể , những động tác cơ bản
để tạo nên điệu múa , tuy nhiên là ít ỏi và cơ bản nhất , cùng với học hát ,
học thuộc một điệu múa , và học về nhạc lý cơ bản __ Nốt nhạc và hát âm . .
Những tháng 4 đầu hè
đáng nhớ ấy còn theo bước chân chúng tôi
trên các nẻo đường của tổ quốc , hải đảo , núi rừng Việt Nam trong suốt cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc ,
Và rồi , cũng những
ngày tháng tư , tôi về đoàn không số chờ tàu , nhưng số phận và yêu cầu thay
quân của đoàn vận tải , vì tôi đã có thực tế một công nhân cơ khí nên lại được
điều động rời đoàn không số xuống tàu há mồm __ Tàu Tan-kit nhỏ của Trung Quốc
và đi vận tải biển với nhiệm vụ lính máy và cơ điện hạm thuyền .
Những năm tháng tuổi
trẻ và những ngày tháng tư , tháng năm của một thời hòa bình trong bộ quân phụ
lính thủy là như vậy . Tháng tư và đất cảng Hải Phòng với hải quân chúng tôi có
thể không bao giờ quên một thời trai trẻ với bài hát “ Nhổ neo ra khơi “ . mà
Tư lệnh trưởng bấy giờ là Thiếu Tướng Tạ
Xuân Thu __ Một vị Tướng nghe nói từ
Pháo Binh chuyển sang .
Rồi Tháng
Tư 1975 , trên đất Thủ Đô HANOI , trong
nhiệm vụ một Sỹ Quan Kỹ Thuật _ Kỹ sư quân sự
ở Cơ quan cục , chúng tôi lại mở bản đồ quân sự để theo dõi cuộc tiến
công thần tốc đến giải phóng SAIGON , Lúc đầu chúng tôi dung bản đồ 1/50 về sau
để theo dõi địa danh vị trí sát hơn chúng tôi treo bản đồ 1/25 và nhận tin từ
Cục Tác chiến thông báo từng chiến điểm và quyết chiến điểm dọc miền trung
trong đèo Hải Vân cho tới cửa ngõ Sài Gòn ; Chiến thắng đến đâu là lại thêm một
hình vẽ lá cờ Mặt trận lên địa danh đó của bản đồ quân sự mà mãi về sau chúng tôi được biết gọi là “
Chiến dịch Hồ Chí Minh “ mà trực tiếp Tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị
trực tiếp chỉ đạo , chiếm thời cơ thần tốc giải phóng miền nam thống nhất đất
nước . Bây giờ lại sắp đến kỷ niệm giờ
phút thanh bình vĩnh viễn 11h 30 ngày 30 tháng 4 – 1975 .
Năm nay , lại
sắp đến ngày kỷ niệm chiến thắng 30 tháng 4 , nhưng nó không còn hào hứng như
mấy chục năm trước , không phải trong lòng cựu chiến binh chúng tôi mà cả trong
các tầng lớp nhân dân . Có thể nhân dân chờ đón những đổi thay và chiến thắng mới
trong xây dựng đất nước và cuộc sống thanh bình
giàu có . cho nên , cái không khí của Kỷ niệm chiến thắng đã trầm xuống
đưa người ta về với những ký ức xa xăm không thể nào quên những năm tháng tuổi
trẻ đầy gian nan , vất vả mà nỗi nhọc nhằn ,,chịu đựng đặt lên vai không chỉ
quân đội nhân dân Việt Nam mà là đặt lên vai cả một lớp thanh niên và nhân dân
Việt Nam , dân tộc Việt Nam trong những
năm cuối của thế kỷ 20 .
Với tôi và có thể
với nhiều người , Tháng Tư không chỉ là
mùa Phượng Vỹ thơ ngây ,mùa của những
con Ve Sầu mà còn là mùa oi nóng của một thời thanh xuân đầy nhiệt huyết . mà
những ngày cuối tháng cùng với những ngày thượng tuần của Nó làm ta ùa đến bao ký ức , kỷ niệm của những
năm dài đã qua . ‘\’./.
Đỗ Tành Hưng HỒI KÝ
Đ.T.Hưng –Ngườiáo
đen hang đầu
CHÍNH TRỊ VIÊN CỦA TÔI
*** Đỗ
Thành Hưng
Trước ngày đi B, tôi được bổ nhiệm làm đại đội
trưởng, tôi dọn về ở cùng phòng với chính trị viên Đặng Đức Sỹ để hai anh em
tiện bàn bạc, trao đổi công việc, phân công nhau chuẩn bị mọi mặt cho đơn vị để
lên đường đúng ngày giờ quy định. Thời gian chuẩn bị chỉ khoảng bốn tuần. Chúng
tôi quá bận, không có thời gian về từ biệt gia đình dù chỉ một nửa ngày là đủ.
Tôi và anh Sỹ cũng chưa kịp tìm hiểu kỹ về nhau. Ban ngày cũng ít khi được ngồi
ăn cơm với nhau, ai về trước thì ăn trước. Buổi tối chúng tôi trao đổi công
việc đã làm trong ngày và thống nhất công việc ngày mai. Tối đến, mệt mỏi vì lo
toan suốt cả ngày, chúng tôi hỏi về nhau dăm ba câu rồi mỗi người đắm vào suy
tư của riêng mình và chìm sâu trong giấc ngủ.
Tôi biết anh đã có vợ và hai con, gia đình ở Uy
Nỗ, Đông Anh. Anh đi bộ đội từ những năm 59-60, dáng người to cao, khoẻ mạnh,
chắc chắn, cằm hơi bạnh, vẻ mặt cương nghị. Dáng làm quân sự hơn là làm chính
trị. Tôi hình dung dạng người và khuôn mặt khá giống Nguyễn Kháng Chiến ở tiểu
đội tôi thời đi học. Chiều ngày 15/12, sau khi tổ chức kết nạp Đảng cho tôi,
anh và cậu liên lạc tên Nguyện, quê Chương Mỹ cùng vài anh em nữa, lên xe của
Trung Đoàn sang Vĩnh Yên nhận tám xe bọc thép BTR-60 BP phối thuộc cho đại đội
tôi để chở quân đi B. Đêm khuya ngày 16/12, đoàn xe phối thuộc cho đại đội về
tới Xuân Mai, tôi vẫn chong đèn ngồi đợi. Một dáng người to cao, áo quần xốc
xếch, chật căng, chân đất, tay xách đôi giày đen bước vào phòng. Anh quăng đôi
giày xuống đất, nét mặt căng thẳng, hầm hầm. Tôi nhận ra anh nhưng gương mặt
rắn rỏi, cương nghị của anh hàng ngày - gương mặt người chính trị viên của tôi
sao lại thay bằng gương mặt lạ lùng vậy? Anh không nói không rằng và ngồi xuống
ghế. Tôi chưa hiểu điều gì, chưa kịp hỏi anh có chuyện gì thì cậu Nguyện liên
lạc bước vào, cũng áo quần xốc xếch, chân đất, gương mặt thất thần, tái mét,
một bên mắt và má trái tím bầm, sưng húp. Tôi vội chạy lại đỡ Nguyện ngồi xuống
ghế và hỏi:
- Sao thế này hả Nguyện?
- Dạ!
Em bị chính trị viên đạp vào mặt ạ!
Nghe vậy máu trong huyết quản tôi thấy nóng
dần. Tôi liếc nhìn anh và ném về phía anh một cái nhìn trách móc và có phần
giận dữ. Một ý nghĩ rất nhanh trong đầu tôi: Một cán bộ, một Đảng viên, một sỹ
quan mà đánh lính trước giờ ra trận thì dù bất luận đúng sai thế nào cũng không
thể chấp nhận được! Hình ảnh người chính trị viên, người giới thiệu tôi vào
Đảng mà thế này ư? Xử lý sao đây?
Tôi còn
đang mông lung, bối rối thì anh mở tủ rồi đi lại phía tôi và Nguyện. Anh đưa
tôi hộp dầu cao sao vàng và nói:
-
Anh Hưng, xoa nhẹ cái này cho cậu ấy giúp tôi!
Rồi anh
gọi cậu liên lạc của tôi lấy nước nóng, pha muối, vò khăn chườm cho Nguyện. Lấy
quần áo ấm cho Nguyện thay. Sao nhỉ? Chuyện gì đây?
Tôi thật
không hiểu gì cả! Anh lấy quần áo của mình thay bộ quần áo chật căng chắc không
phải của anh. Tôi thật sự bối rối. Tôi vội thay ấm trà pha nước mời anh để hỏi
sự tình, uống ngụm trà ấm rồi anh rành rọt nói rõ ngọn ngành. - Đoàn xe của
mình đi qua bến phà Mía, xe tôi ngồi, bơi tới giữa sông thì nước tràn vào,
không rõ vì sao? Chắc do động tác lái không đúng. Cậu lái xe và trưởng xe bật
cửa nhảy ra. Xe chết máy và chìm rất nhanh. Tôi kịp bật cửa pháo thủ nhảy ra,
Nguyện ở trong cũng lần được cửa pháo thủ trồi lên. Trong đêm tối có nhìn rõ
cái gì xung quanh đâu! Nghe tiếng kêu cứu, thuyền của dân hai bên sông chèo ra
cứu kịp cả bốn chúng tôi. Ông tính, rét thế này bao nhiêu áo ấm mặc cả vào
người, lại đôi giày cô-sư-ghin chết tiệt như đeo đá vào chân, không thể tháo ra
được. Tôi chỉ kịp cởi phăng cái áo bốn túi, cái áo len, vừa bơi, vừa kêu cứu.
Bỗng thấy loằng nhoằng ở chân, tôi biết là Nguyện cố bíu chặt chân tôi trong
cơn hoảng loạn. Tôi lấy hết sức bình sinh đạp cậu ấy thật mạnh, cậu ta buông chân
tôi ra....
Nguyện chen vào:
- Em bị choáng, chỉ còn lơ mơ thấy ai túm tóc
em.
Anh nói tiếp:
- Lúc ấy cứ đạp thôi, biết chỗ nào mà tránh,
rồi tôi túm tóc cậu ta, tôi bơi có một tay.
Cũng may, tôi có một thời gian ở vùng sông
nước, lại có sức khoẻ, biết bơi, có chút kinh nghiệm cứu người khi cùng bị
đuối. Không để cho họ túm được mình trong cơn hoảng loạn. Nếu không thì chết cả
hai. Tháng này nước sông Hồng cạn, lưu tốc nhỏ chứ mùa mưa lũ thì thầy trò tôi
chắc không còn thấy được anh em!
Lên thuyền, Nguyện bị ngất, bụng no căng, sau
khi làm động tác cấp cứu kịp thời, cậu ta dần tỉnh lại, mặt còn xanh lét kia
kìa!
Tư trang, giấy tờ, trang bị còn ở cả dưới lòng
sông. Phải lấy tạm quần áo của anh em mặc đỡ. Lúc lên bờ mới thấy cái lạnh thấu
da, thấu thịt.
Ôi! Thì ra là vậy! Tôi thật là hồ đồ đã thầm
trách nhầm anh. Tôi thấy mắt cay cay không biết vì xúc động hay ân hận vì phản
ứng nông nổi của mình khi sự việc chưa biết rõ ràng.
Anh đã làm một việc diệu kỳ, vượt qua cái chết
nhưng không quên đứa em, người đồng đội của anh, của chúng tôi. Giá phải như
tôi trong trường hợp này chắc tôi và cậu liên lạc đã đi toong là cái chắc. Tuy
ở vùng quê nhưng tôi không biết bơi, biết lội. Mỗi lần ra ao tập bơi, cả hai
tay, hai chân tôi vẫy đạp tứ tung,
loạn xạ, mà bọn trẻ con chúng tôi thường gọi là
kiểu bơi chó! Tôi chả biết bơi ếch, bơi bướm là gì. Sau này vào chiến trường,
tôi có nghe nói BTL-TG đã trục vớt chiếc xe ấy, cụ thể thế nào tôi không rõ.
Sáng 17/12, tôi nhận được lệnh ngày lên đường
nhưng giờ G chưa xác định, đơn vị được lệnh cấm trại, nay gọi là giới nghiêm.
Ngày 17 và 18/12, anh Sỹ sao lại toàn bộ giấy
tờ, sổ sách của đơn vị, từ hồ sơ lưu trữ của tôi. Anh tâm sự:
- Mọi thứ sổ sách, giấy tờ mình làm lại được,
quân tư trang trung đoàn trang bị lại. Mình chỉ tiếc mấy tấm ảnh của vợ con,
gia đình và vài kỷ vật vẫn còn trong xe chìm dưới đáy sông.
Tôi vâng, dạ tỏ ra đồng cảm với anh, nhưng thực
lòng tôi đâu có hiểu hết tình cảm của anh. Bởi tôi chỉ có chiếc ba lô, tình cảm
với mẹ và gia đình thì ai chẳng có. Một vài bóng dáng người con gái nào đó mơ
hồ, lãng đãng, không rõ nét ở tuổi trưởng thành là lẽ bình thường, không nhẹ
nhưng cũng chẳng nặng gì đối với tôi. Làm sao tôi hiểu được cái tình, cái nghĩa
vợ chồng, cha con ở nơi anh. Anh sắp phải xa... xa lắc... xa lơ... chưa hẹn
ngày trở lại.
Trưa ngày 18, đại đội 11A của Hồ Tiến tổ chức
liên hoan chia tay với đại đội 11B chúng tôi. Tối đó, trung đoàn tổ chức chiếu
phim chiêu đãi. Chưa xem hết phần phim thời sự, khúc mở đầu mỗi lần xem phim
thời ấy, thì phía Hà Nội rực trời cháy đỏ. Đạn pháo phòng không, tên lửa đan
chéo nhau kín cả trời đêm. Tiếng máy bay gầm rít chói tai, buổi chiếu phim phải
huỷ. Tiếng bom gầm ,đạn réo suốt đêm. Ánh sáng đèn dù, pháo sáng lúc tỏ, lúc
mờ, chập chờn như ma quái. Ánh sáng của thần chết đang gieo rắc khắp nơi.
Sáng hôm sau thức dậy, đất trời vẫn bình yên
như đêm qua chỉ là một cơn ác mộng. Tối qua không mở được đài tiếng nói Việt
Nam. Sáng nay tôi mở đài sớm mới biết Mỹ đánh bom huỷ diệt Hà Nội bằng cả máy
bay B52.
Khoảng 8 giờ sáng, tôi nhận được lệnh giờ
"G" từ trung đoàn chuyển xuống, tôi
và anh Sỹ thống nhất phát lệnh sẵn sàng lúc 15
giờ cùng ngày. Trưa đó, tôi và anh Sỹ ở nhà vì mọi việc chuẩn bị đã hoàn tất.
Bữa cơm trưa cậu liên lạc mang về có mấy món trông ngon mắt. Anh Sỹ lấy ra
bi-đông rượu, không biết anh có từ lúc nào. Rót ra hai chén, anh nói với một
giọng thân tình:
- Ông Hưng à, ban chỉ huy đại đội có tôi và
ông, ông chỉ huy làm tốt công tác bảo đảm kỹ thuật trong hành quân. Tôi và anh
em vào thẳng nơi tập kết trước, sẽ chuẩn bị nơi ăn ở chu đáo chờ đón ông và
đồng đội, chúc thắng lợi nào!
Tôi và anh cụng chén, anh uống ực một cái, phả
tiếng "khà khà, chép chép". Tôi chỉ nhấm môi, xin phép khất anh vì từ
trước tới giờ tôi không uống được rượu. Xin khất anh vào tới chiến trường sẽ
cạn chén cùng anh.
Chiếc đài Orionton mới toanh vừa được trang bị
lại đang phát bản tin. Vừa ăn, chúng tôi vừa nghe phát thanh viên thông báo
thắng lợi giòn giã của quân và dân ta, bắn rơi cả pháo đài bay B52... Rồi sự
tàn phá, chết chóc ở nơi này, nơi kia quanh Hà Nội. Anh uống thêm chén thứ hai,
rồi chén thứ ba để sẵn trên bàn như chờ tôi cùng cạn. Tiếng cô phát thanh viên
như nghẹn lại, khi đọc họ tên những người bị thương, bị chết... tối qua theo
thống kê ban đầu chưa đầy đủ. Bỗng bát cơm trên tay anh để bịch xuống bàn, đôi
đũa rơi xuống mặt bàn, phát ra hai tiếng khô khốc, ghê ghê, rồi lăn xuống nền
nhà. Anh ngồi ngây ra, mắt mở to như trợn trừng rồi từ từ khép hờ lại. Đôi tay
anh run run, đang quờ quạng như tìm kiếm cái gì! Tôi hốt hoảng:
- Anh Sỹ! Anh làm sao vậy?
Tôi vội chạy sang phía anh, anh không trả lời,
anh vịn vai tôi từ từ đứng dậy. Tôi đỡ anh bước ra khỏi ghế, anh tựa vào thành
giường rồi đổ kềnh như cây chuối bị chặt gốc. Đôi giày cô-sư-ghin cũng không
kịp tháo ra, anh lắp bắp chẳng rõ tiếng gì và run run chỉ về phía chiếc đài.
Chắc anh nhức đầu muốn bảo tôi tắt đi, tôi với tay tắt máy.
Anh nằm ngửa, mắt nhắm hờ, tay vẫn nắm chặt tay
tôi.
- Anh để tôi gọi y tá.
Anh bóp chặt tay tôi ra ý không cần:
- Tôi đưa anh đi trạm xá cấp cứu nhé!
Anh lại bóp chặt tay tôi, hơi kéo lại, tỏ ý
không cần thế. Anh nắm chặt tay tôi như không muốn rời ra, không muốn xa tôi, hình như
anh sợ mất tôi, sợ sự trống vắng, cô đơn...?
Tôi không dám rút tay ra, cứ để yên như vậy,
nhìn anh thiêm thiếp. Trong đầu tôi thoảng qua sự lo sợ, rồi nghi ngại... Chả
nhẽ anh bị ngộ độc rượu?... Hay là... Hay là... Ở đâu đó, tôi có nghe nói có
người tự gây thương tích để có cớ "B quay" mà thường là những người
có vợ, có con như anh.
Nhưng anh là một Đảng viên? Một sỹ quan? Một
chính trị viên cơ mà? Chả nhẽ...?
Chả nhẽ...? Mà từ hôm hai anh em được bổ nhiệm
đến giờ, anh cũng như tôi rất tích cực, luôn sát cánh bên nhau chuẩn bị, tổ
chức mọi mặt cho đơn vị, chẳng có biểu hiện gì? Tôi với anh tuy: "đôi bên
chức tước, chẳng kém chi nhau" nhưng tôi luôn coi anh là người anh, là trụ
cột của đơn vị. Anh không chỉ là chính trị viên của đại đội mà còn là chính trị
viên của riêng tôi.
Tôi hơn anh về mặt chuyên môn, kỹ thuật, còn
mọi mặt chỉ huy, tổ chức... đối nhân xử thế, tôi phải dựa vào anh. Con người đã
có cả chục tuổi quân, đã kinh qua nhiều chức vụ, từ tiểu đội trưởng đi lên. Có
bản lĩnh chỉ huy, lãnh đạo hơn hẳn tôi - một cậu học trò mới ra trường, nhờ
được học hành mà nhảy cóc từ binh nhất, binh nhì, lên thẳng sỹ quan. Vài tháng
làm kỹ thuật viên rồi lên thẳng đại đội trưởng, đâu đã am tường cuộc sống, am
tường công tác chỉ huy, lãnh đạo như anh.
Hay là?... Hay là?... Hay là anh biết tôi còn
ngây ngô, cả tin, dễ giận, anh diễn kịch
với tôi. Tới sát giờ "G" anh mới dở
chứng để có cớ "B quay"? Hay chả nhẽ rượu độc do anh tự pha, tự chế
để kiếm cớ thoái lui? Thế thì may cho tôi rồi! Tôi chỉ mới nhấm môi thấy cay
cay thôi. Nếu đúng anh muốn "B quay", tôi sẽ lấy giấy giới thiệu vào
Đảng của tôi, tự tay tôi gạch tên anh, người giới thiệu thứ hai vào Đảng của
tôi ngay trước mặt anh! Hình như những gì tốt đẹp nhất anh để lại trong tôi hơn
hai tháng qua, những gì tôi ngưỡng mộ và học tập ở anh, hy vọng sự dìu dắt của
anh để tôi trưởng thành đang bắt đầu tan chảy...
Tôi đang đắm chìm trong nỗi suy tư, bế tắc
không có câu trả lời trước sự kỳ quặc của anh... Bỗng hai khoé mắt anh chảy dài hai
dòng nước mắt. Hình như anh đang cố nén một cái gì sâu thẳm trong tim? Anh
buông tay tôi rồi ngồi bật dậy,rút khăn tay lau mắt. Hình như có gì quá xúc
động với anh chăng? Anh phải lịm đi không nói thành lời. Sau hồi trấn tĩnh, anh
đã trở lại bình thường chăng? cầu trời như vậy! Anh nhìn tôi và nói tôi gọi cậu
liên lạc của tôi cho anh. Anh bảo cậu liên lạc dọn cơm đi, dù bữa cơm chúng tôi
mới và được vài ba miếng. Tôi pha ấm trà mới cho anh, thấy anh thì thầm gì đó
với cậu liên lạc:
- Anh Sỹ à! Anh đã khoẻ chưa? Chỉ còn vài giờ
nữa là tới giờ "G" rồi đó anh!
- Ừ! Nhớ rồi! Tới giờ "N+1" ông phát
lệnh cho các trung đội nhé!
Tôi thấy anh lau bàn rồi cầm chiếc bát ra ngoài
đi đâu đó, một lúc sau anh mang vào lưng bát gạo và một cái đĩa con không biết
để làm gì? Anh diễn trò gì nữa đây?
Hai chúng tôi ngồi uống nước, tôi không dám hỏi
gì chuyện anh bị xỉu lúc vừa rồi.
Một phần sợ anh khó trả lời nếu anh định...,
phần muốn anh tỉnh táo hẳn mới hỏi rõ nguồn cơn. Thấy anh tỉnh, tôi đã yên tâm
một chút, nhưng vẫn thấp thỏm, không biết anh còn giở chứng gì không? Giờ
"G" sắp tới, tôi đi một vòng xuống các trung đội dặn dò các trung đội
trưởng và thông báo chính thức giờ "G". Lúc quay về, vừa tới cửa
phòng, tôi giật thót mình. Trong đầu tôi muốn hét lên: "Anh Sỹ! Anh làm
cái gì thế này? Anh điên rồi à? Muốn "B quay" thì nói toạc ra! Anh
cúng bái cái gì trước giờ ra trận thế?".
Nhưng may quá, tôi mới chỉ nghĩ, chưa kịp phát
thành lời thì cậu liên lạc của tôi ra giấu để tay trước miệng: yên lặng! Tôi
đứng ngây ra nhìn người chính trị viên xì sụp khấn vái giữa khói hương nghi
ngút với bát nhang bằng bát ăn cơm, một đĩa hoa rừng, chắc cậu liên lạc của tôi
hái vội đâu đó cho anh, ba chén rượu lưng , một phong lương khô mới bóc. Tôi
đứng nhìn anh và nghe anh lầm bầm khấn vái điều gì đó... Khoảng năm ba phút
sau, anh lấy khăn tay lau nước mắt.
Lấy lại bình tĩnh và chúng tôi cùng ngồi xuống
bên bàn, tôi chờ đợi sự giải thích của anh. Anh tợp một ngụm trà rồi nói với
tôi:
- Ông ạ! Tôi bị xúc động đột ngột quá, đau đớn
quá, không nói được thành lời.
Lúc trưa nghe đài, xã Uy Nỗ của tôi bị B52 rải
thảm. Trong số người bị chết có họ tên ông bố vợ tôi, em vợ tôi và mấy người bà
con họ tộc. Không biết vợ con tôi có việc gì không? Miếng cơm vừa và vào miệng
thì tắc nghẹn khi nghe tin dữ... Chắc
ông tưởng tôi bị cảm?... Tôi chỉ chiếc đài ý
nói hãy nghe tin thì ông không hiểu lại tắt đi. Tin đau buồn quá, nhưng giờ
"G" đã đến, không thể về qua nhà được. Tôi thắp mấy nén nhang xin tạ
lỗi với nhạc gia và dòng họ, cầu mong vong linh những người tử nạn tối qua phù
hộ cho anh em, đơn vị mình hoàn thành nhiệm vụ. Đó là cách tốt nhất để trả mối
thù này! Ông lo toan mọi việc nhé, tôi tranh thủ viết mấy dòng gửi lại, may ra
vợ con, gia đình tôi nhận được.
Tôi sững người, đứng dậy ôm chầm lấy anh. Tôi
khóc. Khóc vì xúc động, vì đồng cảm với nỗi đau của anh. Khóc vì ân hận tôi đã
nghĩ sai về anh, về một con người đầy bản lĩnh nhưng rất mực tình người! Tôi
khóc để thay lời xin lỗi anh. Tôi tự trách tôi hồ đồ, nông nổi. Đây là bài học
thứ hai, tôi nhận ra điểm yếu của mình, của người sỹ quan trẻ thường phản ứng
nhanh nhưng thiếu bình tĩnh và chín chắn trước một sự việc bất thường.
Đặng Đức Sỹ! Anh không chỉ là người anh, người
đồng đội, mà còn là người thầy của tôi về cách đối nhân xử thế, tính cách chững
chạc, điền đạm cần thiết của người cán bộ.
Như một phản xạ tự nhiên, tôi đến trước bàn thờ
đơn xơ mà anh vừa lập. Chắp tay vái lạy hương hồn những người quá cố, trong đó
có người thân của anh vừa ra đi vĩnh viễn bởi bom đạn kẻ thù... Tôi thông báo
và cho mời các trung đội tới vái vọng, chia sẻ nỗi đau buồn của anh ngay trước
giờ ra trận.
Đúng 19h30, khi những viên đạn lửa phòng không
đầu tiên sáng rực, bay vút lên như xé rách màn đêm, cũng là lúc tôi bắt chặt
tay anh, ôm chặt lấy anh, tiễn anh lên xe dẫn quân vào tuyến lửa. Chúng tôi hẹn
đón nhau ở chiến trường.
Bộ phận của tôi đi sau cùng, 21h30 chúng tôi
mới có lệnh xuất phát.
Thời gian này Mỹ tập trung vào Hà Nội nên trên
đường đi vắng bóng máy bay của không lực Hoa Kỳ. Chúng tôi đi khá nhanh và an
toàn. Qua đất bạn Lào, bắt đầu gặp máy bay của không lực Sài Gòn, đã đôi lần
chúng chao lượn trên đầu nhưng không ác liệt như không quân Mỹ. Đã vài lần tôi
nghe tiếng bom rền nhưng không rõ từ đâu. Đêm đêm có nghe tiếng máy bay mà anh
em binh trạm nói là C-130 đi tuần tiễu, lâu lâu có tiếng súng: "Cắc-thùng!
Cắc-thùng!..." như tiếng trống cầm canh từ máy bay bắn xuống.
Rồi một ngày cuối tháng 1/1973, tôi nhận được
tin dữ: bộ phận C11-B bị tập kích bom bi, anh Sỹ và vài chiến sỹ của tôi bị
thương phải vào bệnh viện, anh Sỹ bị khá nặng. Khi vào tới căn cứ, tôi hỏi
Nguyện, cậu liên lạc của anh. Nguyện chỉ biết anh bị thương nặng khi vào viện
và không biết gì hơn vì phải tiếp tục hành quân. Thế là đại đội tôi mất người
cán bộ năng nổ, tận tâm, dày dạn kinh nghiệm chỉ huy, tổ chức. Tôi thấy hụt
hẫng khi thiếu anh, thiếu một chỗ dựa tinh thần. Tai hoạ chết người, nỗi đau
mất mát quá lớn liên tiếp đến với anh nhưng vẫn không cản được bước chân người
sỹ quan can trường và mẫu mực. Nhưng hòn tên, mũi đạn đã bắt anh phải bỏ dở
cuộc hành quân cùng chúng tôi đến ngày toàn thắng. Sau hoà bình, những lần ra
hội họp ở BTL-TG, tôi hỏi thăm nhưng không ai biết anh ở đâu? Đã về
đâu?...
Qua dòng hồi ức về anh,
nếu anh còn, anh hãy liên lạc với tôi qua điện thoại. Tôi xin được cạn nốt chén
rượu nghĩa tình với anh mà hơn bốn mươi năm trước, thời trai trẻ tôi còn khất
nợ anh, dù bây giờ tôi vẫn không uống được rượu.
Nếu con cháu anh đọc được những dòng hồi ức của
tôi viết về anh, các cháu có quyền tự hào về một người cha, người ông đã có
"một thời như thế đó". Đó là cái thời của thế hệ chúng tôi, và nhiều
thế hệ đã có một thời như thế và phải như thế đó!
Dẫu sao họ tên anh vẫn hiển hiện trong lý lịch
Đảng của tôi:
-
Người giới thiệu thứ hai: chính trị viên đại đội -
thiếu uý - Đặng Đức Sỹ. Vẫn còn đây!
Đỗ Thành Hưng
B5-C213Sài gòn, 19/11/2013
Đt:
0908106399
PHẦN KẾT-GẶP LẠI BẠN BÈ
Vào tới chiến trường, tôi tiếp tục làm đại đội
trưởng đại đội sửa chữa tăng thiết giáp của đoàn thiết giáp Đông Nam bộ, phiên
hiệu là M26. Ngày 15/9/1973, tôi được chuyển Đảng chính thức. Nhiệm kỳ 1974,
tôi được chi bộ bầu vào cấp uỷ. Nhiệm kì 1975, tôi được tái cử cấp uỷ, kiêm phó
bí thư chi bộ. *******______________ Sau ngày 30/4/1975, có điều kiện, tôi nháo
nhác tìm lại bạn bè và gặp được Huỳnh Quang Tự, anh Thể (lớp chuyên tu), anh
Lương Văn Cao, Lê Tùng Sơn, Trần Phượng và nhiều anh khác.
Một ngày tháng 6/1975, Lê Công Sơn đột ngột
xuất hiện sừng sững trước mặt tôi. Tôi còn đang ngỡ ngàng về cuộc hội ngộ này
thì hắn vồ lấy tay tôi bóp thật mạnh. Tôi hơi nhăn mặt mà không dám kêu đau.
Hắn chẳng cần thủ tục xã giao thông thường, không thèm hỏi thăm sức khoẻ tôi ra
sao? Có thương tật gì không? Miệng hắn nở nụ cười hết cỡ, mắt mở to nhìn thẳng
vào mặt tôi nói như quát:
- Mày đã là cấp uỷ, bí thư chi bộ rồi phải
không? Tôi không trả lời thẳng vào câu hỏi của hắn, tôi cười pha chút sượng
sùng như người biết lỗi và trả lời Sơn như tâm sự: - Ngày ra trường, tao biết
mày có ý giận tao về việc phấn đấu, tao cũng mặc cảm vì thua kém mày, chứ biết
sau ba năm tao cũng là cấp uỷ, phó bí thư chi bộ thì tao đã nhờ mày bắn tin để
tao ngỏ lời với em gái mày từ ngày ấy. Bây giờ thì muộn rồi phải không Sơn? Sơn
xúc động, giọng chùng xuống chậm rãi:
- Ừ... muộn mất rồi!
Chúng tôi ôm chặt lấy nhau hồi lâu. Trong lòng
tôi dâng trào cảm xúc vui buồn. Nói ra được điều thầm kín mình ôm ấp bấy lâu
với Sơn, tôi thấy lòng mình nhẹ đi dù là quá muộn.
Lê Công Sơn, một thằng bạn chân thành, dù xa
nhau nhưng luôn quan tâm theo dõi sự trưởng thành, tiến bộ của tôi. Giá như...
giá như ngày đó tôi nghe và theo gương Sơn phấn đấu tốt hơn, có khi tôi và Sơn
giờ đây, ngoài tình bạn còn có tình thân thiết khác ./.
Nguyễn Thanh Sơn Phải , Đỗ Thành Hưng , Trần Quý Quyết Cựu học
viên C213 khóa 1 học viện K.T.Q.S.
V.N
Nguyễn
Thanh Sơn HỒI KÝ
L
ũ bạn trẻ
cùng trang lứa thoáng chốc đã về già. Tuối già
hay nhớ về quá khứ về bạn bè xưa. Tôi tặng bạn câu chuyện tôi viết tết Nhâm
Thìn 2012, có hình ảnh của bạn trong đó. Giờ lại sắp tết Ất Mùi 2015 rồi!
01.1.2015 N Sơn
CHUYỆN DÔNG DÀI
NGÀY TẾT
Cái anh tết Nhâm Thìn – 2012
này, được nghỉ dài ngày thật. Trước giao thừa được nghỉ 2 ngày, trùng với thứ
bảy, chủ nhật, sau giao thừa được nghỉ 3 ngày: thứ 2, thứ 3, thứ 4 vậy là 5
ngày. Do trùng với 2 ngày được nghỉ thứ 7, chủ nhật nên được nghỉ bù vào 2 ngày
tiếp theo là thứ 5, thứ 6 vậy là được nghỉ 7 ngày. Sau 2 ngày nghỉ bù đó lại là
thứ 7, chủ nhật – được nghỉ, lại nghỉ - vậy là cái anh tết Nhâm Thìn này được
nghỉ tổng cộng 9 ngày, dài quá.
Được nghỉ càng dài ngày càng tốt chứ sao? Kêu dài, là dài ngày so với Tết
Quý Hợi – 1983 được nghỉ có một ngày rưỡi, trước giao thừa được nghỉ nửa ngày,
tức là được nghỉ bắt đầu từ chiều 30 tết. Nhớ tới ngày tết đó: Sau buổi sáng
vẫn làm việc, chiều bắt đầu được nghỉ. Mọi người nháo nhào về nhà, người thì đi
xếp hàng mua hàng tết theo tem phiếu: Một ít bóng miến, một ít lá dong, 2 bao
thuốc lá Tam Đảo, một gói chè Hồng Đào…người thì vội lau dọn nhà cửa, cắm lọ
hoa, cành đào… rồi thì tắm rửa, chưng diện những bộ quần áo đẹp nhất…rồi
thì giao thừa…Hôm sau, mồng 1 tết được nghỉ, người ta còn ngủ rốn tới khoảng 8h
sáng - Trước lúc đó ai mà có dịp ra phố mới thấy thủ đô mới thanh bình, trinh
nguyên ra sao, ôi những khoảng khắc thanh thản đến tuyệt vời! Rồi người dân đổ
ra đầy đường, mồng 1 lễ cha, mồng 2 lễ mẹ, mồng 3 lễ thày dồn tất cả vào buối
chiều. Khuôn mặt người dân sáng ngời hạnh phúc, gầy nhưng không yếu, nghèo
nhưng không hèn. Họ chúc tụng nhau đầu năm đẻ con trai cuối năm đẻ con gái…rồi
sáng sau, mồng 2 tết lại đi làm. Nghỉ ít thôi, tranh thủ thời gian mà làm, có
làm nhiều mới ra nhiều sản phầm cho xã hội, mới đỡ khổ - đúng quá đi chứ - các
vị lãnh đạo nghĩ vậy, và họ phát động người dân: Mỗi người làm việc bằng hai.
Có người tranh luận với tôi: Là cái tết chỉ được
nghỉ có một ngày rưỡi đó là tết năm 1985?
Ôi quan trọng gì, tôi có phải là người viết lịch
sử đâu, tuổi già nhớ nhớ quên quên, chỉ biết là đã có một thời như vậy.
Song như vậy còn là sướng lắm. Còn gọi
là được nghỉ tết, còn có gia đình, chứ hồi ở chiến trường có được
nghỉ tết đâu, ngày tết là nỗi nhớ nhà, anh em đồng đội quây quần bên nhau. Và
ngay ngày chủ nhật cũng làm gì được nghỉ, nên chúng tôi gọi là ngày thứ 8.
Cái tết Quý Mão - 1963 tôi 15 tuổi, cùng lũ bạn học chúng tôi kéo nhau
lên bờ hồ Hoàn Kiếm đón giao thừa. Ngày đó tết ở Hà Nội là phải lên bờ hồ Hoàn
Kiếm đón giao thừa mới gọi là tết. Tết lạnh, ăn mặc phong phanh, song phải có
pháo. Tiếng pháo nổ xóa tan nỗi cô đơn nghèo nàn, gắn kết mọi người lại với
nhau. Bấy giờ hai bên phố Hàng Bài bắt đầu từ quá rạp Tháng 8, là mấy khu tập
thể có tường lửng vây quanh trên là chấn song, họ ngồi bên trong bán pháo. Mọi
người thò tay qua chấn song đó mua pháo, 1 hào 2 quả pháo tép, 2 hào một quả
pháo đùng loại nhỏ. Còn pháo đùng loại 5 hào là to lắm, khi đốt, mọi người vừa
bịt tai, vừa chạy dạt ra. Lạ thế đấy, sợ song vẫn thích.
Bấy giờ bố tôi mới đi công tác CHDC Đức về, ông
cho tôi hộp pháo hoa. Mà lạ, pháo gì mà chỉ như đoạn nan hoa xe đạp, dài chỉ
khoảng 10 phân? Để dành mãi, để tối giao thừa ra bờ hồ đốt. Đẹp thật, nó bắn
tung tóe ra chung quanh, sáng vàng rực rỡ. Thằng Tâm cầm chạy, mọi người kêu:
Cháy, cháy! Chúng tôi vô cùng thích thú.
Quanh bờ hồ dày đặc người là người, người đi tới -
có gì mà tới? Người đi lui - có gì mà lui? Song họ vẫn đi, bao năm rồi họ vẫn
đi như vậy, tết mà, ra bờ hồ mà đi.
Mấy thằng học sinh chúng tôi đi tới phía bên kia
bờ hồ, chỗ mà bây giờ là cổng siêu thị Intimex ấy, thấy hai thằng nhỏ cỡ tuổi
bọn tôi, lễ mễ bưng ra một quả pháo cối to bằng cái phích nước sôi. Chúng nó
đặt ngay quả pháo dưới lòng đường nhựa, châm lửa đốt! Ối trời ơi, riêng đoạn
dây cháy chậm đã to như đoạn dây thừng buộc trâu, dài cỡ 1m, có lẽ phải đủ dài
cho chúng nó còn kịp chạy. Vậy là không ai bảo ai tất cả lùi lại, thành một
khoảng rộng, mấy cô gái hét lên sợ hãi. Còn bọn con trai chúng tôi, cũng lùi
song không quá xa để mang tiếng là nhát, bụng vẫn bảo dạ là liệu có sao không
nhỉ. Đúng là dây cháy chậm thủ công, cháy đùng đùng rồi lại leo lét, rồi lại
cháy đùng đùng…ngọn lửa đã leo tới miệng quả pháo…có lẽ sau tiếng nổ này, trái
đất sẽ ngừng quay?- Đẹt! té ra là một quả pháo tép. Bấy giờ mọi người phá lên
cười lên vui vẻ. Hai thằng nhỏ nhô từ sau gốc cây ra lấy lại quả pháo, có lẽ nó
lại đi nghịch ở nơi khác, đúng là nhất quỷ nhì ma…
Tiếng loa phóng thanh treo khắp quanh hồ phát ra
tiếng chuông điểm nhịp thời gian: Boong -12 giờ rồi, giao thừa rồi! Pháo nổ
trong loa phóng thanh, khắp bờ hồ đốt pháo. Hàng Ngang, hàng Đào đốt pháo, phố
nhà giàu có khác, có những dây pháo dài từ tầng hai xuống chạm đất. Hòa
trong tiếng nổ lẹt đẹt vội vã của pháo tép, lại xen lẫn tiếng nổ đùng của pháo
cối.
Bỗng từ loa phóng thanh phát ra câu nói ấm áp:
Đồng bào và chiến sĩ cả nước yêu quý…
Ôi, tiếng bác Hồ, bác Hồ chúc tết! vậy là không ai
bảo ai, tất cả đứng im phăng phắc, thành kính đón nghe tiếng bác Hồ chúc tết,
cả bờ hồ đông đúc náo nhiệt như vậy, mà giờ đây im lặng như nghe thấy cả tiếng
lá rơi.(Cho mãi tới sau này khi đã ở lứa tuổi tri thiên mệnh, tôi vẫn nghĩ
đến hiện tượng này: Đó là lòng thành kính, như một tín ngưỡng tâm linh… và tôi
hiểu, thế nào là lãnh tụ!).
Lúc vui nhất là lúc nên về nhất, tất nhiên, mọi
người ra về mấy đứa học sinh chúng tôi cũng về. Dọc đường đi thì rơi rụng dần,
tới Lê văn Hưu thì Cảnh về, Hoạt về Phùng khắc Khoan, Thích về tập thể nhà
rượu…còn lại một mình, song tôi chưa vào nhà, ngồi mãi nơi vỉa hè…
Tết này tôi 15 tuổi, tôi không thích người ta gọi
là trẻ con nữa, mà ở thời kỳ đó đã bắt đầu gọi là thanh niên. Rồi 25 tuổi, liệu
lúc đó tôi đã lấy vợ chưa nhỉ, xấu hổ quá…Rồi 45,55 già vậy ư? Già hơn cả chú
Có, chú Tiếp à? Rồi 65, ôi trời ơi, già hơn cả bố tôi bây giờ sao? Vậy thì lúc
đó bố tôi ở đâu? Tôi không dám nghĩ tiếp, và tôi…làm thơ:
Đì đùng pháo
nhỏ nổ cùng to,
Hương pháo tung bay khắp mọi nhà.
Tết đến, xuân về, xuân lại lại,
Có thấu lòng người khi lại một xuân qua?
15 tuổi, đúng là ông cụ non.
Học trên tôi mấy lớp có anh Bùi Minh Quốc,
bấy giờ thơ anh đã nổi tiếng lắm rồi:
Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy,
Thì xa xôi gấp mấy cũng lên đường.
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương,
Ngàn khát vọng chất chồng mơ ước lớn!
Ôi, lên đường - Đi! (đi đâu?) Hướng đời đã
thấy (hướng đời là cái gì? Thấy, thấy cái gì?) chả biết, cứ đi đã! ( Nàng thơ như một cô gái đẹp kiêu
sa, vẫy gọi đấy mà mơ hồ đấy, làm cả đời lận đận chạy theo - Cái tuổi trẻ, bao
giờ cũng là tuổi trẻ, tội nghiệp!)
Tiếc là bây giờ không được đốt pháo nữa, trong cái được cũng có cái mất, còn
lại là lòng hoài niệm.
Tôi đã đi bộ đội, cái tết Quý Sửu -1973, lúc đó tôi là đại đội trưởng
của một tiểu đoàn anh hùng bộ đội Trường Sơn. Đơn vị tôi lúc đó đóng ở ngã 3
Lùm Bùm, mút đường phía bên kia đường 20 Quyết Thắng. Tôi 25 tuổi rồi, đâu còn
là một cậu học sinh măng tơ nữa. Rừng Trường Sơn gian khổ và chiến tranh ác
liệt đã biến tôi thành con người khác: Khuôn mặt xương xương, da thâm tái vì
sốt rét, mặc quần áo bộ đội đã bạc màu…may là trong huyết quản còn chảy bầu máu
nóng.
Bom đạn địch đánh ác liệt, những nỗ lực cuối
cùng của kẻ địch hòng ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược, và vì vậy chúng tôi
luôn căng thẳng như sợi dây đàn. Tôi luôn mang theo một khẩu tiểu liên AK báng
gấp, ở mặt trận mà mang súng ngắn thì như mang trò chơi vậy. Bị đánh tắc đường,
nổ 3 phát. Có thương binh, nổ 4 phát. Có tử sỹ, nổ 5 phát! Thành quy ước rồi,
lính công binh không biết từ đâu đội đất chui lên cứu chúng tôi.
Đi lên tiểu đoàn giao ban, bao giờ tôi cũng gặp
anh Cau đứng đợi đầu dốc. Cau là chính trị viên đại đội 1, anh ấy có cái đài
National 3 băng, và khi gặp tôi Cau đều sôi nổi kể tin tức thời sự mà đêm qua
anh ấy nghe được, bấy giờ chúng tôi quan tâm nhất tới hiệp định Pari về ngừng
bắn ở Lào.
Hiệp định Pari được kí kết, bắt đầu có hiệu lực từ
ngày 27.1.1973, thì chập tối 26.1.1973 anh Cau hy sinh trên đèo Văng Mu, trong
một trận đánh phá cuối cùng của máy bay địch, cái đài National cũng không còn
nữa. ( Biết bao người hy sinh
trước giờ chiến thắng! 40
năm đã trôi qua, mà tôi chưa qua nhà thắp cho anh Cau một nén hương, mà cũng
chả biết nhà anh Cau ở đâu, đất Vĩnh phúc thì rộng lắm. Bây giờ nhà cao cửa
rộng liệu còn ai nhớ đến anh Cau?)
Cái đêm giao thừa ấy, rơi vào đêm 2.2.1973, yên
tĩnh đến lạ thường, tôi và anh Chiu, chính trị viên đại đội đi kiểm tra bãi xe:
Bảo anh em nghỉ sớm một tí, đêm nay giao thừa rồi.
Có lẽ không nên kể qúa tỉ mỉ cái tết ở chiến
trường, cũng có lọ hoa - hoa rừng, chả nhớ là hoa gì, cứ đỏ đỏ vàng vàng là
được. Cũng có kẹo - kẹo anh em tự chế bằng sữa bột trộn với lương khô, đun sôi
rồi cho nhỏ xuống nước lạnh vón lại thành những viên tròn tròn, kiếm giấy màu
vê lại bày lên đĩa thành kẹo tết…Và ở đâu cũng vậy, cái hầm của ban chỉ huy đại
đội thành thủ đô, giống như bờ hồ Hoàn Kiếm đêm giao thừa vây. Lính tráng kéo
đến, leo lên ngồi chật giường, tựa lưng vào vách đất nghe đài. Góc kia thì đánh
“Tiến lên”ồn ào…Bên trong cái vẻ tỏ ra là ồn ào ấy, là một nỗi buồn xa gia
đình, một nỗi bâng khuâng ngày tết của các chàng lính trẻ. Lúc ấy chúng tôi trẻ
lắm, tôi thiếu úy đại đội trưởng, 25 tuổi. Anh Chiu thượng sỹ chính trị viên,
29 tuổi. Anh Luyện thượng sỹ, đai đội phó người Hải phòng, 28 tuổi.Trong chiến
trường chả ai đeo quân hàm, vớ vẩn, song vô cùng dũng cảm và tận tuỵ vượt mọi
khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Hơn 80% cán bộ đại đội – đại đội cao xạ, đại đội
công binh, đại đội xe, đại đội giao liên…là thượng sĩ, anh Cau cũng vậy, lác
đác có anh chuẩn úy, thiếu úy. Tôi dám cá là thiếu tá sau này không hơn anh
thượng sỹ chúng tôi hồi ấy, có hơn là chỉ lương cao hơn thôi. Cấp trên “chặt
chẽ” quá, đành rằng hy sinh tất cả vì độc lập tự do…
Hơn 11 giờ đêm rồi, căn hầm tôi nồng nặc khói
thuốc, ngày tết hậu cần cấp cho mỗi người một bao Tam Đảo, hút đến đau cả ngực,
mệt mỏi.
Anh Khoa xuống, chả nói chả rằng kiếm cái điếu cày,
và bắt đầu sọc sọc…Năm đó anh Khoa đã 46 tuổi là xã viên hợp tác xã nông nghiệp
ở Vĩnh Bảo Hải Phòng được động viên đi bộ đội, vào chiến trường anh làm chiến
sỹ nuôi quân đại đội tôi. Già rồi nuôi quân càng tốt, để rút chiến sỹ trẻ ra đi
chiến đấu. Chả phải nói, cả đại đội ai cũng kính trọng anh, cái tuổi bậc cha
bậc chú ấy, lại tính tình điềm tĩnh.
Buông điếu cày, anh Khoa nói nhát gừng: Báo cáo
đại đôi trưởng…không chỉ tôi, mà tất cả đều lắng nghe xem anh Khoa nói gì:…rồi
anh Khoa lại nâng điếu cày lên, lại sọc sọc…: Đề nghị đại đội trưởng cử cho tôi
3 người, ra bìa rừng…cùng tôi…kéo con nai về đây.
Tôi hỏi lại :
- Có thật không đấy?
Tôi không ngờ là anh Khoa lại phản ứng:
- Tôi ngần này tuổi rồi, mà còn nói đùa à?
Vậy là chả ai bảo ai, mà cũng chả phải phân công cắt cử gì, tất cả ùa ra
khỏi hầm ban chỉ huy, họ chạy về “nhà” xách súng đi săn.
Tôi ngủ rất say, chừng 7h30 thì tỉnh
giấc.
Yên tĩnh đến lạ thường, mọi khi tầm giờ này thì
máy bay trinh sát OV.10 đã oo trên đầu, tiếng ô tô gầm rú leo dốc, không có cả
đến tiếng người. Tiếng OV.10 ấy, oo từ sáng tới tối, từ ngày này sang ngày khác
như có con ve trong tại rất khó chịu, giờ không có nó lại thấy chống chếnh? lạ
thế đấy.
Có lẽ mọi người cho rằng tôi sẽ tả cái buổi sáng
mồng một tết Quý Sửu này, nó thanh bình đến nỗi chỉ có tiếng chim kêu, vượn hú,
tiếng suối róc rách? Không có đâu, rét quá, im lặng quá.
Tôi leo ra khỏi hầm nhìn quanh, lính tráng đâu cả
rồi? Ối trời ơi, mấy con nai nằm ngang ngửa trên khoảnh đất trước hầm ban chỉ
huy, 4 con cả thảy, nằm như những con bò.
Tôi vội gọi:
- Anh Chiu ơi, anh lên mà xem này.
Chiu thò đầu lên, dụi mắt:
- Gì thế? Và cũng ngạc nhiên:
-Ừ nhỉ, làm thế nào bây giờ?
Anh em đi săn suốt đêm về, ngủ say:
-Thì cứ báo hậu cần tiểu đoàn, báo các đơn vị
đến lấy thịt nai về ăn tết!
Có lẽ chúng tôi là những người đầu tiên được sống cuộc sống của chủ nghĩa
cộng sản, không gì là của riêng ai cả, mà cùng vui với thành quả săn bắn hái
lượm. Các đơn vị cử người và xe đến chở nai về ăn tết, đơn vị chúng tôi chỉ giữ
lại một con, ồn ào vậy mà anh em vẫn ngủ.
10 giờ sáng thì anh em dậy cả, vừa tíu tít
làm bữa cỗ đầu năm, vừa say sưa kể về chiến tích đi săn đêm qua. Nhà nào (tức
hầm nào) tự làm lấy cỗ của mình. Riêng ban chỉ huy, y tá, liên lạc, tổ nuôi
quân tất nhiên là cả anh Khoa rồi, làm một cỗ. Chúng tôi sắp củi trước cửa hầm,
đốt lên như lửa trại. Anh Khoa bắc lên cái chảo quân dụng, đục cả thùng mỡ 9,9
kg đổ vào (sau này tôi vẫn thắc mắc là sao lại làm 9,9kg mà không làm 10 kg
cho chẵn?). Tôi điện mời anh Giáo tiểu đoàn phó, thì anh Giáo kêu: Cũng
đang chết dở với thịt nai của ông đây!
(Kể thêm một tí cho vui, chuyện dông dài ngày
tết mà: Anh Giáo là người dân tộc mường song khôn ngoan lắm, nên tôi hay trêu
là Giáo C. Vì máy bay ném bom chiến lược B.52 mà cải tiến thành B.52C nó ghê
gớm lắm, người dân tộc mà còn kinh hơn người Kinh! Mới một tháng trước, anh
Giáo bị bắn: Anh ấy đi săn ngay sau tiểu đoàn bộ, vừa từ hố bom leo lên thì bị
bắn. Do cậu Tài cơ công cũng đi săn, thấy đèn đội đầu lại tưởng mắt nai(!) May
mà viên đạn trúng vào khe nách, khẩu súng mà anh Giáo đang kẹp nách bị vỡ báng,
bị thương nhẹ song được một phen hoảng hồn, nên tôi mời mà anh Giáo không nhiệt
tình là phải.)
Tôi ngồi bên cái đùi nai, đã được anh Khoa rạch
tách da, lộ ra một tảng thịt đỏ au còn hấp dẫn hơn cả thịt bò. Anh Khoa cắt ra
một miếng lớn, thái thái, rồi hất cả vào chảo mỡ. Cũng rất nhanh, anh Khoa cầm
đũa vớt ra, đặt từng miếng vào mỗi bát chúng tôi, ân cần bảo: Ăn đi.
Cỗ tết thì phải nói tới rượu, có thể nói người
nông dân Việt Nam ở bất cứ đâu, đẻ ra là đã biết nấu rượu. Huống hồ gì chúng
tôi là người khắp các miền quê lại có phương tiện kĩ thuật trong tay: nồi chưng
cất, ống ruột gà…tự làm ra hết. Cái khó là men, thì chúng tôi đã có men lá đổi
cho người Lào, men lá thì rất được rượu, có điều uống xong thì rất nhức đầu.
Kệ!
Gắp một miếng thịt nai còn nóng hổi, chấm vào bát
muối trộn mì chính (tiếc là ở chiến trường không có chanh) cho vào miệng
nhai nhồm nhoàm, lại tớp một hụm rượu: Ngon!
Lịêu tổng thống Mỹ có sướng hơn tôi lúc này không?
Chúng tôi ngả nghiêng, trời đất ngả nghiêng…40 năm rồi, tôi còn ngả nghiêng.
Một tháng sau, cả đơn vị tôi được điều vào
tăng cường cho trung đoàn 98 công binh, riêng tôi bị giữ lại. Anh Luyện được
giao thay tôi làm đại đội trưởng, tôi được bổ nhiệm trưởng ban kỹ thuật. Từ đó
tôi không gặp lại anh Khoa, anh Chiu và mọi người nữa…
Cái anh tết Nhâm Thìn-2012 này dài quá, nghỉ những
9 ngày. Bây giờ mỗi tuần được nghỉ hai ngày: thứ 7, Chủ nhật như Tây, lại tết
nghỉ những 9 ngày, chứ không như hồi năm 1983 tết được nghỉ có một ngày rưỡi.
Vậy mà xã hội đầy hàng hóa, mua gì cũng có, chỉ sợ không có tiền, lạ thế đấy. Té ra để có nhiều sản phẩm, không phải là ở
làm nhiều, mà là ở cách làm.
Nghỉ 9 ngày song tôi không đi đâu cả, đi chơi thì
phải có tiền, cái anh thương phế binh như tôi thì lấy tiền đâu mà đi du lịch?
Vì vậy mà tôi ngồi viết, hy vọng trong tràng giang đại hải này, con cháu nó
nhặt được cái vẩy vàng: Bài học cuộc sống.
Lạ
thế đấy, hồi ở chiến trường xa quê hương, xa gia đình mà chúng tôi thấy
ấm áp. Mà giờ đây, ở giữa đô thị, ở giữa mọi người mà sao tôi thấy lẻ loi?
Tôi lại nghĩ tới câu thơ Bút Tre mà tôi tâm
đắc. Đừng nghĩ là tôi thích vớ vẩn, tôi biết là nhà thơ nổi tiếng Trần Đăng
Khoa đã chê: Bút Tre không phải là thơ, một loại hò vè gì đó… Không sao, tôi
thích là được, và liệu có ai hiểu được là vì sao tôi tâm đắc không?
Thi đua ta quyết thi đua
Thi đua ta quyết vươn lên hàng đầu,
Hàng đầu chả biết đi đâu
Đi đâu chả biết, hàng đầu cứ đi!(?)
Cũng nói đôi điều về Bút Tre để tri ân ông ấy: ông
tên thật là Đặng Văn Đăng nguyên trưởng ty văn hóa (bây giờ gọi là giám đốc sở)
tỉnh Phú Thọ những năm 60, và chính ông ấy là người ghi lại câu nói nổi tiếng
của bác Hồ:
”Các
vua Hùng đã có công dựng nước/ Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
NHỚ VỀ TRƯỜNG XƯA NHỚ VỀ
TRƯỜNG XƯA
Sài Gòn Summer 2014 nhớ đến
ngày về Trường
Mùa hè năm nay vào tiết trời tháng 7 ,
Sài Gòn mưa nắng thất thường và những cơn mưa có khi kéo dài cả giờ đồng hồ
cùng theo nước triều cường từ biển nên không tránh khỏi nhiều đường phố ngập
nước , nhất là nơi chỗ tôi _ Thủ Đức . Tuy thế , đất Bắc có thể nóng nực nhưng
nơi đây về đêm vẫn cần một chiếc chăn mỏng sẽ dễ chịu hơn khi ngủ .
.G vì mỗi người tuy tuổi cao nhưng còn nhiều công việc đang làm ; bởi thế lần
này chỉ họp nhau được 5-6 người . Thế thôi nhưng chúng tôi sống lại cả một thời
gian khó và sôi nổi dưới mái trường Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự V.N . .
Chúng tôi tựu trường trong các điều kiện rất khác nhau , Người thì từ Quân
chủng Không quân , người thì từ Quân chủng Hải Quân , người thì từ Trường Phổ
Thông Trung học của Quân đội __ Trường Nguyễn Văn Trỗi __ Khóa 1 , người thì từ
Công binh , người thì từ Pháo binh …
Tôi và Nguyễn Tuấn , Nguyễn Nước ,Vũ Huân từ quân chủng Hải quân . Tôi còn nhớ
mãi những năm tháng Hải Quân và ngày về trường của chúng tôi .chúng tôi từ X 48
, X46 đưa về trường .
Tôi còn nhớ , : Vào một sớm mùa hè cách đây đã 48 năm . chừng nửa buổi sáng ,
tôi đang trên rừng tìm kiếm tre nứa về làm doanh trại và ngụy trang máy móc
đang để ngoài trời cũng như những mái tôn nhà xưởng dựng dưới chân núi ven bờ
Hạ Long nép mình vào dẫy núi Quang Hanh thì được Liên lạc của Khu vực gọi về
gặp Thủ trưởng . Thế là , ngay trưa đó cơm trưa xong ,chúng tôi nhờ xe vận tải
về Bãi Cháy và chiều thì nhờ chuyến Tầu Tuần la về Hải Phòng ,chúng tôi về trạm
đón tiếp của Quân chủng bên Thủy Nguyên – nơi sơ tán .
Vài hôm sau chúng tôi lại có mặt ở Bãi Phúc Xá – Hà Nội Khu vực của Trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội đã bỏ trồng để đi sơ tán đâu đó . Dừng chân ở đây tôi nhớ
có đoàn Hải quân của chúng tôi và lác đác vài đoàn khác , rồi dừng chân chưa
đến 1 tuần lễ chúng tôi lại hành quân về Ngải Dương __ Hưng Yên , cách Ga Như
Quỳnh mấy thôi đường đường làng . Bấy giờ tôi cùng Tiểu đội với Đỗ Thành Hưng
đang ngồi đây , Nguyễn Đình Thắng từ Trường N.V.Trỗi , cùng Nuyễn Văn Tân Hải
Quân X 46 …
Ở Ngải Dương , chúng tôi được ôn tập và kiểm tra văn hóa . Đợt kiểm tra đầu
tiên , ai không đạt yêu cầu thì được học trọn một ngày không phải lao động xây
dựng trường lớp hoặc giúp dân ; còn ai đạt được yêu cầu thì được ôn tập nửa
ngày . Rồi, kiểm tra lại chính thức trước khi Khai giảng năm học .
Đoàn Hải Quân chúng tôi có Trinh không đủ điểm để theo học , nhưng Trường cho
lựa chọn : hoặc về đơn vị hoặc vẫn theo học và cố gắng theo kịp đồng đội ; ;
bấy giờ __Khóa 1 không có khóa Dự bị như các khóa sau __Dự bị tại trường ., nhưng
Trinh chọn con đường quay về đơn vị cũ .
Bởi vì khóa của chúng tôi đều được
tuyển chọn từ các Quân , Binh chủng khắp toàn quân về học khóa đầu tiên mang
tên Trường Đại học Kỹ Thuật Quân Sự V.N . ( Thuở khai sinh ,gọi là Phân hiệu 2
Đại Học Bách khoa Hà nội , có 2 khóa chuyển tiếp và họ ra trường trước chúng
tôi 2 năm và nhận bằng tốt nghiệp của Bách khoa H N )
Thấm thoát đã 48 năm từ ngày về trường . nay 5 , 6 chúng tôi mỗi người một một
khác nhau trong nhiệm vụ sau khi ra trường và rồi đều đi trọn cuộc kháng chiến
hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước ; nay mỗi người lại
vẫn tiếp tục những ngày nghỉ hưu cũng khác nhau , người thì trở thành Kịch Tác
gia , người thì trở thành Võ Sư YOGA ngườn thì thành chủ trang trại vẫn cầm vô
lăng ô-tô riêng , người là những giảng viên Trường Đại học , người là Cán bộ
Khoa học . ..
Ngồi bên mâm cơm trong khách sạn Sài Gòn chúng tôi không khỏi bùi ngùi khi nhớ
và nói đến các Đồng Đội đã ra đi vì bệnh tật và tuổi tác đã từng trải trên dọc
đường Trường Sơn hoặc trên Đất Bắc dầy đạc đạn bom khốc liệt .
_______________________________
Nội
dung :
Những năm tháng trên chiến trường B2 Miền Đông Nanm Bộ
ĐạiTá Lê Tùng Sơn Ô TÔ –TĂNG XÍCH Bài từ Biên Hoà chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
LÊ TÙNG SƠN
Bài từ Biên Hoà chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường
Chuyện thứ hai: Sửa xe M113 dưới pháo sáng
Đỗ Đăng Đích
Trên Đất THỦ ĐÔ
Đ ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
KHÔNG ĐỀ
Mẩu chuyện bên lề
Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường
Tôi và Trần Phượng đang học bổ
túc lái xe để lấy bằng ở trường lái xe 255 thì được lệnh về Bộ Tư Lệnh Pháo
binh nhận công tác. Trước khi đi học tôi là khẩu đội trưởng 12,7ly đại đội 20
Trường Sĩ quan Pháo binh, Trần Phượng là thợ của trạm sửa chữa trung đoàn 368
BTLPB. Trần Phượng được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe trung đoàn
204-BTLPB. Tôi được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe đi B2-chiến trường
Đông Nam bộ.
Khi đến gặp đồng chí trưởng ban cán bộ BTLPB để nhận quyết định đi B, cho đến
bây giờ tôi cũng không nhớ nổi cảm xúc của mình, bởi lẽ lúc bấy giờ mọi suy
nghĩ hành động của người thanh niên nói chung và người Đảng viên, sĩ quan nói
riêng, việc đi B là một vinh dự là một việc tất nhiên phải làm không có gì phải
đắn đo suy nghĩ…
Tôi được nghỉ phép 15 ngày, về nhà
chẵng biết làm gì, nhà tôi ở khu tập thể Công ty vật liệu khiến thiết Hà nội 17
Hàng Ngang khu Hoàn kiếm, Hà nội các em tôi còn nhỏ đang di học cấp 1,2 má tôi
bận đi bán hàng ở cửa hàng của công ty, ba tôi ở tận Thanh hóa đang làm giám
đốc công ty vận tải lâm sản Tổng cục Lâm nghiệp. Ngày đi vào đợn vị 675 ở Thanh
hóa chỉ có Chúc là vợ của Ngọc Tuấn bạn thân của tôi đi tiễn ra bến xe Kim
liên, lên xe rồi chỉ có vợ bạn là khóc còn mình thì mong sao đến đơn vị sớm.
Đến trung đoàn 675 ở Triệu sơn Thanh hóa vào buổi tối, đơn vị đóng trong nhà
dân bản Mường. Ngày hôm sau tôi nhận bàn giao trạm sửa chữa xe của trung đoàn
đã được tập trung từ trước chỉ chờ tôi vào nhận bàn giao để đi B2. Trạm xe có
14 chiến sĩ gồm thợ xe, thợ nguội, thợ rèn và lái xe, trạm có hai xe Vọt tiến
chở trang bị dụng cụ, máy phát điện 10kw…
Đầu
tháng 12/1971 trạm cơ động ra trường bắn 410-BTLPB đề tham gia thành lập đoàn
2047Ađi B2. Đoàn bao gồm đại đội cối 160 ly do anh Bùi như Lạc làm đại đội
trưởng, trạm sửa chữa pháo do anh Phan thanh Nga làm trạm trưởng, anh Nga cũng
học chuyển tiếp C8 ở trường ĐHKTQS và trạm sửa xe của tôi, toàn đoàn có 12 xe
gồm 7 xe Hoàng Hà chở cối cùng đạn cối 160 ly, 3xe Vọt tiến của trạm pháo và 2
xe của trạm xe. Chúng tôi ở tại 410 hơn 10 ngày để củng cố tổ chức, làm dàn
ngụy trang cho xe, bảo dưỡng xe lần cuối. Mỗi xe đều được che chắn buồng lái ở
trên nóc và hai bên cánh của bằng phên tre, nứa. Chúng tôi phải gửi lại tất cả
giấy tờ tùy thân để biến thành chiến sĩ quân giải phóng miền nam…
Ngày 16/12/1971
chúng tôi hành quân về phía nam, lúc này Mỹ đã tạm ngừng ném bom từ vĩ tuyến 38
trở ra nên chúng tôi được hành quân trên quốc lộ một. Hành quân trên đường, với
lá cờ nửa đỏ nửa xanh cắm ở đầu xe, thỉnh thoảng gặp một đoàn tàu chở bộ đội đi
cùng hướng, hai bên reo hò vẫy tay cùng hát vang những bài ca giải phóng. Có
lúc gặp những bà mẹ, cô gái đang cấy lúa bên đường họ ngửng đầu lên giơ tay vẫy
vẫy và kéo vạt áo lau những giọt nước mắt…tôi chợt nghĩ cũng may mà mình chưa
có vợ chưa có người yêu…
Đến Cự nẫm Quảng bình chúng tôi dừng lại củng cố đội hình, kiểm tra xe máy, tôi
cùng anh Minh trưởng đoàn đi vào Bộ tư lệnh 559 để xin lệnh hành quân, gặp bác
Đồng sĩ Nguyên Tư lệnh 559 động viên và trực tiếp kí lệnh hành quân tôi cũng
thấy phấn chấn trong lòng và chỉ mong chóng tới mặt trận. Đoàn chúng tôi tiếp
tục hành quân với đội hình đại đội cối 160 ly với 7 xe Hoàng Hà đi đầu, anh
Minh đoàn trưởng đi cùng, Trạm pháo đi giữa gồm 3 xe Vọt tiến và tôi đi cuối
cùng với 2 xe Vọt tiến, tôi đảm nhiệm tham mưu trưởng hành quân có nhiệm vụ
giải quyết mọi sự cố hỏng hóc dọc đường.
Đường hành quân trên Trường sơn sách báo tài liệu nói nhiều rồi, tôi đã trải
qua và nếm đủ. Từ leo đèo lội suối với những hàng tiêu dẫn đường bằng vải
trắng, từ những đoạn đường được lót bằng những cây cừ cho tới vượt qua những
trảng trống..,Từ những đêm đi bằng đèn ống bơ dưới ánh sáng của pháo sáng và
tiếng ầm ì của máy bay C130, cùng những loạt cối 40 ly trên máy bay bắn xuống
mà anh em trường sơn gọi là ‘xin thùng” đến những lúc vượt qua trảng trống với
tiếng gầm của máy bayL19 đuổi theo và cả những tiềng ầm ầm của bom tọa độ do
máy bay F105 ném xuống…Có đêm chỉ đi được 3km, sáng ra nhìn hố nước mà mình đã
uống đêm qua thì thật kinh hãi bởi phân thú rừng đã ỉa từ lúc nào…
Đến binh trạm 32 đoàn chúng tôi bị ném bom, cháy mất 2xe CA30 của đại đội cối,
nhìn xe cháy, đạn nổ mà chẳng làm gì được. Đến khu vực trú quân lại bị một trận
bom nữa, tốp đi đầu vừa đến trạm chưa kịp đưa xe vào mang cá thì bị bom, anh em
chạy sơ tán vào rừng, anh Minh trưởng đoàn bị thương nặng và hai ba chiến sĩ
nữa cũng bị thương, lửa cháy ngùn ngụt tiếng rít cua máy bay còn trên đầu, tôi
và hai chiến sĩ của trạm xe (Tín và Thạnh) chạy lên đập cửa kính đấu tắt khóa
điện lái mấy chiếc xe ở ngoài bãi trống vào mang cá tránh lửa bén tới. Trời
sáng hẳn mọi người mới trở về xe để tiếp tục hành quân, anh Minh và các chiến
sĩ bị thương phải vào trạm cứu thương của binh trạm để trở ra Bắc. Cũng từ hôm
đó một vài chiến sĩ đã nao núng tinh thần có ý đào ngũ, và đúng như vậy có hai
chiến sĩ đã trốn khỏi đội hình đơn vị.
Cuối năm 1971 đầu năm 1972 đường Trường sơn nhộn nhịp hẳn lên bởi ngoài tuyến
vận tải nội bộ của Đoàn 559 còn có các đoàn hành quân đi thẳng vào chiến trường
B2,B3 tiêu biểu là đoàn 571 của Cục Hậu cần Miền(B2), trong đó có đoàn 2047A
của tôi. Theo quy định của Tư lệnh 559 xe cuả 559 phải nhường đường cho các
đoàn đi thẳng.
Đến binh trạm 38 một điều bất
ngờ ập tới với tôi: gặp Công Sơn. Lê công Sơn người Nghệ an, cùng tiểu đội học
viên, học giỏi, tính trầm ít nói, ít tham gia hoạt động ngoại khóa văn nghệ thể
dục thể thao, Sơn được điều đi B vào đoàn 559 trước tôi hơn một tháng. Ai ngờ
hôm nay gặp nhau ở chiến trường mừng khôn tả. Gặp nhau ôm nhau mừng rỡ rồi hai
thằng chui xuống gầm xe nằm nói chuyện thâu đêm tới sáng. Cho đến bây giờ tôi
không thể nào quên những giờ phút gặp bạn đó, đêm không trăng nhưng đầy sao,
yên tĩnh không bị lũ C130 quấy rầy, có lẽ chúng biết hai thằng bạn học của
trường ĐHKTQS gặp nhau nên không dám đến khu vực này đánh phá. Thôi thì đủ
chuyện trên trời dưới biển chúng tôi kể cho nhau nghe, Sơn có người nữ bạn học
từ thời phổ thông yêu hay chưa thì không biết, nhưng hắn nói Trâm(tên người bạn
Sơn) đã thầm yêu cậu ta. Xin được trích một đoạn nhật ký của Sơn về cuộc gặp đó
(đã được Hà em gái Sơn cho phép trích): “Chiều hôm qua, giữa Trường Sơn đất
lửa, tôi đã gặp lại Tùng Sơn, người bạn thân yêu của tôi. Đang nằm trong căn
nhà dã chiến lợp ni lông, tình cờ đứng dậy đi ra ngoài, Tùng Sơn gọi sửng sốt
"Sơn!". Thế là tôi nhảy ào tới siết chặt bạn trong niềm vui
sướng.Chiều tối lại chỗ Tùng Sơn chơi cách 2 km. Tối đến trải bạt xuống đất,
mắc màn và ôm nhau tâm sự đến hơn 1h sáng mới ngủ thiếp đi trong niềm vui gặp
bạn.
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miền Nam.
Bạn đang còn đi xa hơn tôi nhiều vì tôi mới chỉ đi đến vĩ tuyến Quảng Đà, còn
Tùng Sơn đi vào B2. Thế là 3 thằng Sơn đều vào chiến trường cả.Nằm tâm sự, Tùng
Sơn đã kể về gia đình mình, vui nhất là điều mong muốn của mình được thực hiện:
ba mẹ và các em đều khoẻ. Em Hà được vào học sư phạm 10+3. Tình hình gia đình
như vậy là rất tốt, chỉ còn mình lo công tác cho tốt nữa thôi.”
Vậy là 3 Sơn của B5 đã vào chiến trường: Thanh Sơn và Công Sơn vào 559 còn tôi
vào B2 Đông Nam bộ. Sơn nhất quyết sau khi chấm dứt chiến tranh sẽ đi học tiếp,
lấy cho được bằng phó tiến sĩ. Đúng như Sơn nói sau này khi đã về làm phó phòng
quản lý sử dụng Cục ô tô máy kéo, anh ta vài lần đi thi nghiên cứu sinh nhưng
rất không may đều trượt. Trượt về mơ ước học vấn phải chăng làm cho cuộc đời
Sơn gặp không may về nhiều chuyện khác về gia đình riêng, rồi kết cục mà năm
2006 khi tôi nằm cùng viện 175 với Sơn thì Sơn trút hơi thở cuối cùng vì bạo bệnh.
Lúc mất Sơn là Đại tá chủ nhiệm kho J250 Cục oto máy kéo-TCKT.
Cuối năm 1972 lúc đó tôi vẫn là trạm trưởng sửa xe thuộc Đoàn Pháo Biên hòa
chiến trường miền đông Nam bộ. Gặp anh Trần Ba lớp chuyên tu 221 trong một hoàn
cảnh đặc biệt: nồi cháo ong thấm bom tọa độ. Hồi ấy sau một đêm hành quân
chuyển cứ về “đồi Tám cách mạng”(một địa danh bên đất CPC tỉnh Krache), gần
sáng thì tới vị trí đóng quân. Tôi ra lệnh cho đơn vị nhanh chóng triển khai
đào hầm trú ẩn, mọi người nhanh chóng dỡ phụ tùng dụng cụ xuống xe, phủ bạt và
phân nhau đi đào hầm. Hầm chỉ huy do tổ thợ rèn của Nguyễn thế Hệ đào. Dáng
người to khỏe, cao lớn, Hệ cuốc từng nhát phầm phập mặc dù mùa khô bên đất CPC
đất rất cứng như sỏi đá. Bỗng đâu những tiếng ù ù ù vang đến và trời đất như
tối sầm lại…cố gắng định thần mọi người thấy một đàn ong mật vô vàn con đang ào
ào xông tới đốt túi bụi…Thế là mạnh ai người ấy chạy, tôi cùng y tá Hùng mải
miết chạy và chạy, đằng sau đàn ong vẫn uốn lượn đuổi theo, cổ và tay đã được
nêm vài mũi chích rồi. Chạy được vài cây số thì may thay chúng không đuổi theo
nữa, định đốt đống lửa để đề phòng thì nghe thấy tiến vè vè của máy bay trinh
sát OV10 trên đầu, thế là đành phải ngồi trong bóng cây chịu trận. Khát và đói
nhưng chăng làm được gì bởi “cứ”(tức là mơi đóng quân) thì ong đã chiếm mất
rồi. Trời tối anh em chúng tôi lục tục trở về cứ, bấm đèn soi thì thật bất ngờ:
tổ ong dài gần 2 mét to bằng cái bàn làm việc. Hệ và mấy chiến sĩ đốt đuốc xông
khói bắt bằng được tổ ong nọ. Một nồi hai mươi mật và hai nồi con ong bắt được.
Đêm ấy chung tôi nấu một nồi cháo ong ăn bù cho một ngày bận bịu vất vả, chưa
kịp vào mâm thì thật bất ngờ: anh Trần Ba tới. Anh Trần Ba là học viên chuyên
tu lớp 221 ra trường cùng cuối năm 1971, đi chiến trường theo đường bộ vào miền
Đông Nam bộ công tác tại phòng quân giới miền (phòng 4), nghe tin tôi đã vào
chiến trường anh lặn lội xuống thăm. Thời bấy giờ ở B2 quãng đường tính bằng
giờ đi bộ chứ không tính bằng km, từ chỗ anh tới tôi đi mất 5 giờ. Gặp nhau
mừng vui khôn tả, hỏi thăm bạn bè, đồng đội và ôn lại những ngày còn ở nhà tầng
Vĩnh yên…Lúc nồi cháo được bưng ra tôi kể cho anh nghe về trận tấn công của bầy
ong mà mọi người trải qua giờ mới có thành quả là nồi cháo. Bỗng “ào, ào” chỉ
kịp nghe tiếng xé không khí của máy bay F105 bay qua thì chúng tôi đã nằm gọn
trong hầm và “ầm ầm” hai quả bom “tọa độ” đã nổ cách chúng tôi khoảng vài chục
mét. Đêm miền đông lại tĩnh lặng, chúng tôi lên khỏi hầm để tiếp tục cuộc chén
thì ôi thôi nồi cháo đã bay mất rồi, mùi cháo còn thơm lừng với những vụn cháo
vương vãi đâu đó dưới ánh đèn pin. Cũng may mà còn được một bi đông mật để đãi
anh Trân Ba.
Bây giờ có nhiều cuộc vui với nhiều món sơn hào hải vị, nhiều thức uống cao cấp
đắt tiền, nhưng với người lính chẳng có món nào ngon hơn tình đồng chí đồng đội,
đó là điều mà không có gì có thể mua được và cũng không dễ gì có được nếu không
nếm trải gian khổ nơi chiến trường.
Giữa Năm 1973 bất ngờ tôi lại được gặp tiếp hai thày trò của lớp xe: Anh Bùi
thức Hưng và Đỗ thành Hưng. Anh Bùi thức Hưng là giáo viên dạy chúng tôi về kết
cấu oto Hồi còn ở trường anh em rất thân nhau, anh học khóa 7 Bách khoa chuyển
sang làm giáo viên của trường, tính tình điềm đạm cởi mở và rất tận tình với
học trò. Với những học viên có biệt tài đá bóng như tôi anh càng ưu ái. Không
ngờ được gặp anh tai chiến trường Đông nam bộ những ngày sôi động sau hiệp định
Pari thật vui mừng hết xiết, thật tiếc nghe đâu anh bị tai nạn xe trong khi đi
công tác lên biên giới phía Bắc trong cuộc chiến 1979. Đỗ thành Hưng quê Hưng
yên, học khóa đầu trường Nguyễn văn Trỗi, được tuyển thẳng vào Đại Học KTQS,
học giỏi, sau khi tốt nghiệp được phong quân hàm Chuẩn úy và được phân công về
Bộ tư lệnh Tăng Thiết giáp. Khi đi B2 là đại đội trưởng sửa chữa trung đoàn
tăng tăng cường cho đoàn M26 Bộ Tư Lệnh miền. Hai thằng gặp nhau ở trạm xăng
dầu Lộc ninh, lúc tôi đang chuẩn bị đi phục vụ chiến dịch Phước long. Cùng tiểu
đội nên tôi còn nhớ nhiều kỉ nhiệm về Hưng. Sau này khi giải phóng miền Nam,
Hưng về Quân khu 9 sau đó về lại QK7 làm trưởng phòng tăng Cục kĩ thuật rồi về
hưu sớm do hoàn cảnh gia đình. Hiện giờ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong cảnh
sức khỏe giảm sút nặng nề: Hưng đã đặt 5 Stel trong mạch vành tim…
Khi về căn cứ Bà chiêm Tây ninh
tôi gặp bạn Trân Phượng. Trân Phượng cùng tiểu đội và cùng “tổ tam tam”, anh ta
có câu nói nổi tiếng: “Tắm nhiều làm gì cho nó nhão thịt” vì bản chất của anh
ta rất lười tắm, hai chân “eechdima” lúc nào cũng gãi sồn sột hầu như anh nào
của B5 cũng đều nhớ cả. Phượng về BTL Pháo binh cùng tôi, về làm trạm trưởng
sửa xe trung đoàn 204, khi đi B2 thì đã làm trợ lý xe trung đoàn rồi. Gặp nhau
hỏi thăm được vài câu rồi chia tay vì trung đoàn 204 đã được điều động về quân
đoàn 4(lấy phiên hiệu là 434), sau này khi đi chiến dịch mùa khô 1984 ở CPC tôi
còn gặp Phượng ở mặt trận 479, lúc này Phượng là CNKT sư 7/QĐ4. Phượng sống
ngay thẳng thật thà, khi về hưu “hoàn cảnh” đến mức phường Linh trung quận Thủ
đúc TP HCM phải xây tặng cho một căn nhà tình nghĩa. Lần cuối cùng gặp nhau là
ở bệnh viện 175, tôi đi điều trị mạch vành tim còn Phượng bị ung thư hạch, năm
2006 Phượng qua đời trước Công Sơn vài tháng.
Gặp nhau trong chốc lát, mừng vui rồi chia tay ai về đơn vị nấy. Tôi tiếp tục
chỉ huy đơn vị đi sửa chữa xe phục vụ các chiến dịch cho tới khi giải phóng
miền nam 30/4/1975.
Sự đời thật trớ trêu, khi còn thanh xuân vui vẻ và tếu táo, khi về già gặp nhau
trong bệnh viện vẫn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ba thằng cùng tiểu đội lại
góp phần phong phú thêm cho khoa A1 bệnh viện 175…
Tôi gặp bạn trong lớp khá nhiều, song bốn bạn gặp ở chiến trường thì đã mất hai
rồi. Vẫn biết sinh có hạn tử bất kì, người ta chỉ chữa được bệnh chứ không chữa
được mệnh, nhưng mỗi khi nhắc đến lớp đến trường thì những kỷ niệm vui buồn đều
nhớ đến người đã khuất dù rằng bản thân tôi cũng mắc nhiều chứng bệnh nan y.
Cũng vì vậy mà dù không biết viết văn tôi vẫn cố ít dòng mong sao cho thế hệ
học viên đi sau biết cha anh chúng đã sống và đối nhân xử thế như thế nào; để
rồivững bước trên đường xây dựng ttỏ quốc quê hương trong thời đại mới hôm nay
. ./
Chuyện thứ hai: Sửa xe M113 dưới pháo sáng
Sau thắng lợi chiến dịch Lộc ninh, cuối năm 1972 quân giải phóng mở chiến
dịch Bình long nhằm cắt đứt đường 13 mở rộng vùng giải phóng chờ thời cơ tiến
về Sài gòn.
Để phục vụ chiến dịch, trước đó trạm xe của tôi đã đi sửa hết một vòng các
đơn vị trong Đoàn pháo Biên hòa. Khi học ở trường tôi hay nói vui với các bạn:
mình được đào tạo để “cái gì cũng biết, nhưng chẳng biết cái gì cả”. Ra trường
tiếp xúc với thực tế nếu biết vận dụng “cái gì cũng biết” với tinh thần cầu thị
không dấu dốt, sẵn sàng học hỏi và xắn tay áo lao vào làm với anh em thợ, những
người thợ lành nghề thì sẽ “biết làm” và biết chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm
vụ. Trời phú cho tôi cái tính hòa đồng và điều quan trọng hơn cả là trong chiến
tranh gian khổ ác liệt cận kề với cái chết thì tình thương yêu đồng đội còn quý
hơn cả cái gọi là trên dưới, sĩ quan và binh lính…Vì vậy trạm của tôi đã luôn
hoàn thành nhiệm vụ trên giao, cũng có chiến sĩ bị thương nặng trong chiến dịch
Lộc ninh(cậu Phương bị bom ở cầu Cần lê trên đường 13), nhưng tinh thần vẫn
không nao núng.
Chiến dịch Bình long lực lượng pháo chiến dịch chủ yếu là lựu pháo 105,pháo
chống tăng 85 các loại DKZ, cối 160,120…Đặc biệt ta thu được một số pháo 155ly
của địch, không có xe kéo phải dùng xe M113 thu được của địch để kéo pháo.
Những trận đánh đang diễn ra ác liệt thì một xe M113 trên đường ra trận địa bị
hỏng. Không có xe kéo pháo thì quả là một điều khó khắc phục bởi pháo 155 nặng
tới gần 5 tấn.
Tôi đang ở căn cứ của trạm và mới trải qua một trận sốt rét thừa chết thiếu
sống, nhiệt độ lên tới 41,2 độ, trời nắng chang chang nhưng vẫn trùm chăn ngồi
cạnh đống lửa . Ai đã ở chiến trường đều hiểu sốt rét là thế nào, nóng hầm hập
nhưng vẫn lạnh run người, miệng khô môi nẻ cơm không ăn cháo không màng chỉ
thèm dâu da rừng…muốn đứng dậy phải hai tay hai gậy chống…Có lẽ bài học vỡ lòng
và chuyên sâu của người lính ở chiến trường là sốt rét. Đang nằm trên võng thì
liên lạc của Phòng hậu cần gọi tôi lên Phòng nhận nhiệm vụ gấp. Tôi vơ vội quần
áo tăng võng bỏ vào bồng và gọi Hệ hộ tống tôi trên đường về phòng Hậu cần.
Anh Khanh trưởng phòng hậu cần Đoàn pháo Biên hòa giao nhiệm vụ cho tôi đi sửa
cái xe M113 ấy. Anh nói: “Tôi báo cáo với Tư lệnh pháo binh, tôi chỉ còn dự trữ
một kĩ sư duy nhất, nay tung ra rồi, Tư lệnh yên tâm, sẽ có xe kéo cho pháo
155ly”.
Tôi chỉ thị cho Hệ đi
sang cánh Bắc gọi Tín là thợ xe chủ lực của trạm về vị trí xe M113T(Tín học ở
trường trung cấp Bộ nông trường, tay nghề rất giỏi) Gần tối chúng tôi gặp nhau
ở trong một khu rừng dầu nơi chiếc xe M113 nằm chình ình một đống. Hỏi Hẩu lái
xe tình trạng xe thế nào, anh ta bảo xe chạy đến đó vướng gốc cây không chạy
được, tắt máy xong lên nổ lại thì không khởi động được.
Hỏi không khởi động được như thế
nào thì anh ta trả lời mỗi khi ấn nút nó chỉ kêu lạch cạch lạch cạch. Tôi bàn
với Tín có hai khả năng: bình điện yếu hết điện hoặc khởi động có vấn đề. Tín
dung hai sợi dây dẫn đấu vào hai cực bình điện quệt thử thì tia lửa rất mạnh.
Đoán là nguyên nhân từ khởi động.
Hai anh em chui vào buồng máy, máy xăng hình chữ V giống động cơ Zin130 của ta.
Sờ tìm khởi đông…Không thấy đâu. Trời tối chỉ có sao không có trăng, trên đầu
máy bay OV10 vè vè, máy bay C130 ầm ì thả pháo sáng, thỉnh thoảng nó quăng vài
quả cối 40ly vu vơ…Vai tiếng đồng hồ trôi qua, nếu không sửa xong xe trước trời
sáng thì sẽ ảnh hưởng tới quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy. Máy bay vẫn
gầm rú trên đầu pháo sáng soi rõ hai khuôn mặt đầy dầu mỡ pha chút lo lắng.Tôi
chợt nghĩ sao không chui xuống gầm thử tìm xem, hai anh em chui xuống dưới gầm
xe, mặc cho bùn đất lấm lem quần áo mặt mũi, mỗi người một đầu gầm khảo sát.
Bổng tôi thấy một vành bu long bắt chặt một cái nắp tròn bằng cái mâm đồng ăn
cơm, tôi gọi Tín bò lại và chỉ nó rồi bảo Tín tháo cái mâm này ra. Điều vui
mừng tới bất ngờ bởi cái khởi động bằng con lợn con nằm ‘’chình ình ra đó…Tín
nhanh chóng tháo và chùi hai đồng xu khởi động, chỉ vừa kịp vặn buloong cuối
cùng của nắp chắn tôi đã bảo Hẩu lái xe nổ máy. Tiếng máy nổ rền vang trong
tiếng reo vui của mọi người…
Bây giờ kể ra chuyện này có thể ai cũng thấy ngô nghê, lạc lõng quá tầm thường
nhưng lúc bấy giờ trong hoàn cảnh chưa tiếp xúc với xe hệ hai bao giờ, lại thêm
máy bay quần đảo trên đầu, thời gian gấp gáp, việc tìm thấy cái khởi động cũng
là một niệm vui cho anh em tôi rồi, quan trọng hơn là hoàn thành nhiệm vụ có xe
để kéo pháo. Đến lúc ấy chúng tôi mới thấy khát và đói. Cho đến bây giờ kỷ niệm
về “cái khởi đông M113” vẫn rõ mồm một trong tôi, bài học ở trường là phương
pháp, là tư duy, còn bài học ở đời là sự vận dụng là quyết tâm, là sự bình thản
trong mọi tình huống.
Bài truyền qua Mail của Đại Tá
Lê Tùng Sơn
ĐỖ ĐĂNG
ĐÍCH
Trên Đất THỦ ĐÔ
Đ ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
Thời gian trôi đi mà ta không để ý thì chỉ như một chớp mắt của thế kỷ mà thôi
. Hà Nội , Sài Gòn tên các đường phố tôi đi và đây đó tên gọi của chúng đối với
ai đó có vẻ như xa xôi như thời Trần Hưng Đạo , Quang Trung , Các tên trường
học ai đó nghe cũng xa xôi như Lê Quý Đôn , Lương Thế Vinh và V ân V ân ..
Nhưng trong tôi những tên đường phố , tên trường thật gần sát ngay bên mình ,
và tôi lại nhớ đến những ngày chúng tôi ra trường và đi trên khắp miền của Tổ
quốc thân yêu .
Trong những ngày hè của năm 1971 gần 300 Kỹ sư quân sự của Trường Đại học kỹ
thuật quân sự trong buổi Lễ Tốt nghiệp . chúng tôi đón Tướng Vương Thừa Vũ v à
Trần Đại Nghĩa về trường và Đại tá Chính uỷ kiêm Hiệu trưởng Đặng Quốc Bảo cùng
nhiều Đại tá khác trong suốt buổi lễ với bầu không khí hân hoan bởi khoá kỹ sư
quân sự đầu tiên của Việt Nam , buổi lễ thật trịnh trọng tuy không có mũ áo cử
nhân như hôm nay , chỉ những bộ quân phục với quân hàm học viên sỹ quan quân
đội , bởi chúng tôi chưa có quyết định quân hàm cho từng người . Thế mà , bây
giờ tên các vị tướng ấy đã là tên đường phố , tên trường học , và có học viên
đã là Trưởng khoa của trường mang tên người làm lễ tốt nghiệp cho mình ; thời
gian như ngừng trôi , bởi chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến tuổi tác của mình mà
chỉ thấy mới như sau một đợt chiến dịch mà thôi.
Sau lễ tốt nghiệp, chúng tôi trở về doanh trại và tiếp tục tập vượt núi Tam Đảo
dựng đứng để chuẩn bị cho Những ngày Vượt Trường Sơn khi có lệnh vào chiến
trường Miền Nam . Lại là những ngày gian khổ mới khi mà đường vượt của chúng
tôi tuy ngắn hơn đường vượt của Sư đoàn 312 nhưng dốc núi dựng đứng và đường
hành quân hiểm trở __-một con đường vạch theo bản đồ tác chiến đột nhập hẳn Tam
Đảo bất chấp núi đứng dựng thách đố người lính trẻ sung sức , cùng ba lô và
hành trang tới 30 kg . Gian khổ bấy giờ của chúng tôi cũng vợi đi và được khích
lệ bởi các đoàn tàu hoả chở Xe tăng chiều chiều từ Ga Vĩnh Yên chạy trên đường
sắt mà trên khu nhà bốn tầng xây dở dang , hoặc đâu đó trước cổng trường , khi
‘hoàng hôn gần buông hoặc khi chiều miền trung du đầy gió .
Sau nhận quyết đinh quân hàm vào hàng ngũ Sỹ Quan Quân đội , chúng tôi nhận
ngay địa điểm nhận công tác ,rồi lần lượt rời khỏi mái trường Đại học đầy kỷ
niệm này ..
Tôi được nhận Quân hàm Thiếu uý cùng giới thiệu chung về Trạm 66 Bộ Quốc phòng
tại Hà Nội .
Lần lượt chúng tôi đi nhận nhiệm vụ về những đơn vị khác nhau , từ đó bắt đầu
những chặng đường mới trên vai trách niệm của một kỹ sư quân sự cùng với sự
trưởng thành vợt bậc qua năm năm học tập và rèn luyện trong trường với lòng yêu
thương và tin tưởng của Bộ Quốc phòng . Về trạm 66 nhận nhiêm vụ ,trong đại đội
của tôi , tôi thấy có mình tôi và đợi cho đến cuối cùng mới được đồng chí phụ
trách phân công cán bộ của Tổng Cục kỹ thuật phân công cho tôi và anh Nguyễn
Văn Trình đại đội chuyên tu khóa 1 về Cục Vật tư ở Bưởi .
Hai anh em chúng tôi một Trung úy , một Thiếu úy Kỹ sư quân sự được thông báo
về Cơ quan Cục ; Trạm 66, đi bộ đoạn ngắn chúng tôi đeo ba lô lên Tàu Điện bên
vườn hoa về Bưởi .
Cục Vật tư bấy giờ sát ngay bên bờ Hồ Tây,đối diện ở bờ bên kia là khách sạn
Thắng Lợi nhô ra soi mình xuống mặt hồ xanh trong .
Anh Trình được quyết định Trạm Trưởng xuống Trạm Sửa chữa của Cục bên Gia Lâm ,
còn tôi nhận quyết định Trợ lý Xây dựng Nhà máy của Phòng Tổ chức –Kế hoạch Cơ
quan Cục với bản đánh máy và chữ ký của Thượng Tá –Cục trưởng Trần Ngọc Giao .
Cũng trong khi đợi ở gian nhà lá chờ gọi là phòng khách tôi ngẫu nhiên gặp lại
Nhơn người Quảng Bình cùng tiểu đoàn huấn luyện Hải Quân ở Căn cứ II –năm xưa -
Trung úy , cũng đang chờ vào Cục để nhận quyết đinh , theo Nhơn nói là để đi B
, và bấy giớ nói là đang làmChính trị viên của xưởng Sản xuất Sơn và Khí Ô-Xy
của Cục dưới Kiêu Kỵ --Phú Thụy Hưng Yên . Xưởng này về sau tôi được biết cũng
từ Quân chủng Hải Quân chuyển giao sang để hợp thành nhà máy mà tôi làm trợ lý
xây dựng khi đó chỉ có xưởng giao sang . Và Nhơn và tôi chỉ nhận nhau sau gần
10 năm từ khi rời tiểu đoàn huấn luyên để xuống tàu và đi các đơn vị bờ biển ;
không kịp chuyện gì thì tôi và Anh Trình vào Cuc còn mình Nhơn ngồi chờ ; rồi
tôi đoán rằng : Nhơn đã đi học Sỹ quan năm 1964 trường sỹ quan Hải quân –trường
45 Quảng Yên – Quảng Ninh mà năm đó tôi đã xin ở lại Khu Tuần phòng Hải Phòng
không đi học , sau khi rời đoàn không số xuống tàu Tan-kít rồi lên trạm sửa
chữa Hải Phòng .
NHỚ
NHỮNG NGÀY
BÊN BỜ HỒ TÂY
Sau những năm thiết kế và chỉ huy thi công nhà máy T 606 cục Vật Tư bấy giờ ,
năm 1974 tôi nhận quyết đinh về lại Cục Phòng Tổ chức kế hoạch sau khi hoàn
thành lắp đặt xong toàn bộ hệ thồng cung cấp và phân phối mạng Điện Hạ Áp cho
Nhà máy để thiết kế tiếp theo hệ thống chiếu sang cho dãy nhà 2 tầng làm khu
nhà Hành chính T-606 . Vừa thiết kế xong thì Cục giao cho tôi và anh Hồ Ngọc An
Trợ lý –Trung úy –Kỹ sư xây dựng , thiết kế và hướng dẫn thi công một khu làm
việc , nghỉ ,và họp phụ của Tồng bí Thư Lê Duần trên khu đất kề bên cơ quan Tôi
bấy giờ , và được biết để T.B.T khi cần thiết yên tĩnh , xa Thủ phủ khi làm
việc , lúc nghỉ ngơi hay các cuộc họp .
Tôi nhận trách nhiệm thiết kế và hướng dẫn thi công toàn bộ hệ thống điện ,
nước trong nhà , các phòng : phòng ngủ ,phòng khách , phòng họp cũng như khu
vực nhà của các chuyên viên phục vụ ; chiếu sáng ngoài trời cho toàn khu nhà .
Thiết kế ánh sáng cũng như cấp nước cùng thiết bị Điện nội thất bấy giờ chúng
tôi được phê duyệt trực tiếp với Cục Trưởng trên Bản vẽ thiết kế vật liệu trong
( Bản chính – trên Giấy Can) . Để bảo đảm thiết kế đ ược chắc chắn cho khu nhà
, tôi phải tìm học ,vừa đọc,
vừa thiết kế ,vừa học giáo trình Thiết kế ánh sáng đèn huỳnh quang trong nhà
cũng như thiết kế ánh sáng ngoài trời , cho
còn đang thời chiến tranh ác liệt
nên nghĩ trong bụng sao xứng với người đi chiến trường ..
Trong những ngày Thiết kế bên Hồ Tây , chúng tôi được gặp Tướng Võ Nguyên Giáp
đến thăm trước tiên khi đến Cục vì bộ phận chúng tôi là bộ phận kỹ thuật gồm ác
Kỹ sư và vài cô Thợ Can .
Tôi còn nhớ : hôm đó , đang mải vẽ tạo dáng một đèn góc nhà ánh sáng phản chiếu
, không để ý đến trước phòng cục Trưởng có Đại Tướng đến , khi có Cục trưởng
vào Đại tường cùng vài cán bộ đi theo đến hiên trước phòng , tôi mới bỏ cây chì
nhìn ra thì Đại Tướng đã đứng ngay cạnh bàn làm việc của tôi và hỏi :
__ Đồng chí học gì ?
Tôi lúng túng không biết trả lời thế nào , bởi vì khi đó tôi đang vẽ hình dáng
đèn góc phản xạ riêng cho phòng ngủ của Khu B ( Khu B để chỉ khu nhà của Tổng
Bí Thư đang được xây ) , Nó có hình dáng kiến trúc chẳng quan hệ gì đến nhiệm
vụ một việc kỹ thuật của cục Vật Tư ; Tôi chỉ biết trả lời ;
-- Tôi học ở Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự .
Đại Tướng ngạc nhiên hỏi :
--Kỹ thuật Quân sự sao lại làm cái này ?
Tôi chưa biết trả lời ra sao thì đứng ngay sau
Đại Tướng là Cục Trưởng
Ông rất nhanh trí và trả lời ngay :
--Việc này cũng thuộc về Điện .
Đại tướng rời khỏi bàn tôi và bắt đầu thăm hỏi từng người từ chuyên môn cho đến
nơi tốt nghiệp rất thân tình và quan tâm .
Tôi gặp Đại Tướng lần đầu đã để lại trong tôi lòng kính phục và yêu mến bởi sự
gần gũi , tác phong gọi là rất quần chúng đượm một màu thân thiết tình đồng chí
không phân biệt ông là chỉ huy và ở cương vị thống lĩnh quân đội nhân dân việt
nam . . những năm ấy Đại Tướng không khỏe ,. người gầy và thường hay xuống Cục
tôi để bơi thuyền và nghỉ ngơi bên bờ Hồ Tây này yên tĩnh và mát …
Công việc xây khu nhà đang tiến hành lắp hệ thống điện thì chiến dịch đánh
chiếm tây nguyên diễn ra ác liệt , nhưng chúng tôi ở ngoài Thành và là bộ phận
Kỹ thuật nên không biết tin gì từ Cục Tác chiến .
Một chiều ,tôi từ khu B về phòng gửi cặp bảo mật để thể thao chiều thì một cô
văn thư thân với tôi bảo rằng :
__Anh có quyết định đi B đấy .
Tôi nói :
__Không biết , mình vừa bên Khu B về !
Hôm sau , Tôi thấy quyết định anh bạn – Trung úy Lê Đình Tấn cũng cấp với tôi –
Kỹ sư cơ khí chế tạo Bách khoa Hà Nôi khóa 7 . nhận quyết định cùng Cục Phó Ngô
Kỷ đi B .
Đó là khi vừa giải phóng xong Ban Mê Thuột và Cục Phó và một kỹ sư giỏi , có
năng lực và biết ngoaị ngữ đi để thu hồi toàn bộ vật tư và chiến lợi phẩm sau
khi quân ngụy tháo chạy .
Khi từ Ban Mê về mang về Cục trước khi chuyển tổng cục , tôi mới mục sở thị bộ
Grande La Rouss của Tiếng Pháp mà trước đây chỉ có trong thư viện cuốn Petite
La Rouss . Nó gồm 24 cuốn khổ Letter , mỗi cuốn cho một chữ cái Pháp ngữ .
Khi đó ,biết có quyết định đi B là văn bản cô văn thư đánh máy để xin chữ ký đ
ể xin ch ữ k ý C ục tr ư ởng nói cho tôi biết ; nhưng bấy giờ phải dừng công
việc khu B , nếu tôi đi Ban –Mê- Thuột như điều động của phòng cán bộ -chính
trị Cục .
Kể từ khi giải phóng Ban Mê Thuột , cuộc tiến công giải phóng miền nam và đánh
vào Sài Gòn dần dần bắt đầu vào chiến dịch mới mà mãi sau này mới gọi là Chiến
dịch Hồ Chí Minh , chúng tôi vẫn tiếp tục phải hoàn thành công trình xây dựng
của bộ giao cho Cục chúng tôi . Trong thời gian gọi là Chiến Dịch Hồ Chí Minh
và khi hoàn thành , giải phóng Sài gòn ,thì chúng tôi cũng đã hoàn thành xong
khu B của Bộ Quốc phòng giao cho.
Trong những ngày đầu hoàn thành sau giải phóng Sài gòn , tôi cũng đã được gặp
Tổng bí thư Lê Duẩn vừa từ Sài gòn ra đến xem , kiểm tra Khu B , có khi bằng
Xuồng máy từ phía bờ Khách sạn Thắng Lợi sang , có khi đi Ôtô vừa lấy từ phía
nam ra .
_Trong một ngày nghỉ , Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi đi nghỉ bằng Pê-Rit-Xoa từ
phía khách sạn ghé lên Khu B Phía ngoài Khu B cạnh đường là một trường tiểu học
. khi biết Thủ Tướng đến thăm khu B, Các cháu học sinh tiểu học quanh đấy gọi
nhau đến xúm quanh Thủ Tưứng và Thủ tướng thân mật chuyên trò thăm hỏi .Khi đó
Thủ Tướng gầy gò lắm .
Những lần đi bên Tổng Bí Thư và Thủ Tướng trong Khu B đã cho tôi một cảm nhận
tốt đẹp về các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam chúng ta ; đó là sự gần
gũi nhân dân và được nhân dân tin tưởng , yêu mến , nhất là Thủ Tướng Phạm Văn
Đồng Từ người già , trẻ nhỏ ai ai cũng kính trọng và yêu mến .
Đối với Đại Tướng đã để lại trong tôi một tác phong giản dị , sâu sát của một
chỉ huy , một Tướng lĩnh gần gũi với mọi cấp sỹ quan trong quân đội nhân Dân
việt Nam .
Một Bản lĩnh Tướng Soái Việt Nam .
Cho đến bây giờ tôi mới hình dung ra những nẻo đường các kỹ sư quân sự khóa 1 ,
sau khi ra trường tỏa đi khắp đơn vị quân đội phục vụ cho cuộc kháng chiến
giành độc lập tự do trong giai đoạn vũ khí và phương tiện chiến tranh là quan
trọng nhất ; chúng tôi người đi chiến trường , người ở lai hậu phương trong các
cơ quan khoa học và kỹ thuật để xây dựng một hậu thuẫn kỹ thuật quân sự trong
cuộc chiến .
Trong những ngày vừa về Cục , tôi gặp Lê Kinh Tuyến ở Viện Nghiên cứu Kỹ thuật
quân sự khi tôi sang tham dự , nghe một hội thảo và báo cáo Đề tài Nghiên cứu
của Viện . Có thể nghĩ rằng các kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam không những
có mặt trên các chiến trường , các quân đoàn , binh trạm và cả trên thủ đô đều
đóng góp hết sức mình để đi đến thắng lợi 30 tháng 4 1975 , xứng đáng là đầu
đàn của Học viện hôm nay .
Y
ên B ình v à
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
Vừa tốt nghiệp ra trường , tôi được điều động làm trợ lý xây dựng nhà máy và
lao vào công việc bổ túc tri thức loại hình thiết kế mà trong trường chúng tôi
chỉ được học theo hệ kỹ thuật quốc gia bấy giờ . cho nên , khi Thiết kế các
phân xưởng sửa chữa cũng như thiết kế các hệ thống Dân sự , tôi phải “tự” đào
tạo ;¬học và nghiên cứu phù hợp với các công trình dân sự mang tính quốc phòng
chứ không phải các trận địa tên lửa hay Pháo 100 , hay một trận địa RA Đa nào
đó . Trong đó cần tự học và nghiên cứu thiết kế nhà máy , phân xưởng Sản xuất
và sửa chữa Công nghiệp! …;
Những ngày nóng nực dưới trời Thủ đô , đúng là nắng lửa , đúng vào dịp chiến
tranh phá hoại của miền Bắc của Mỹ leo đến mức ác liệt và chúng kiên quyết nhất
, trường Đại Học Bách khoa phải tạm dừng học tập để sang phục vụ quân đội . Đó
cũng là thuận lời cho tôi khi vừa ra trường và cùng phối hợp với các giảng viên
Đại học Bách khoa cùng thiết kế và bảo vệ thiết kế , cũng như sự kiểm soát
thiết kế của tôi bấy giờ do một vài Phó tiến sỹ phối hợp .
Công việc thiết kế nhiều , bản vẽ lắm , nơi làm việc không thể tập trung và khó
có thể xa Hà Nội đến nơi sơ tán của Bách khoa , , nên tôi làm việc ở cơ quan
bên bờ hồ tây phia Bưởi thường phải đi theo dõi và phối hợp trong trường Bách
khoa cuối đường tàu điện , nhưng chiến tranh không thể ngồi tầu điện mà phải
cuốc bộ đi làm việc bởi mới về cơ quan chưa có xe đạp phân phối để công tác .
Đó cũng là những tháng ngày cũng tốn nhiều sức lực trong khi đó các đồng đội
tôi , bây giờ tôi mới biết , rất đông đang lăn lộn trên chiến trường Miền nam
và các quân đoàn cơ động , còn tôi chỉ mệt nhoài giữa Thủ đô mà thôi . .
Ở Hà Nội cho đến khi tôi chuyển ngành ra ngoài , những ngày Mỹ dội bom từ Máy
bay B52 xuống Thủ đô ta cũng là những ngày không thể nào quên của tôi trên đất
Thăng Long Hà Nội .,cùng với những năm tháng sống trong lòng Hà Nội .
KHÔNG
ĐỀ
Những người con được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội rổi rời Hà Nội đi chiến đấu
,cũng như những người con của Hà Nội từ miền đồng bằng Hồng Hà lân cận về Thăng
Long trong sắc phục quân đội Nhân dân V.N qua trọn vẹn cuộc chiến tranh vệ quốc
và giải phóng dân tộc Việt Nam , trong thế kỷ 21 này người Nam kẻ Bắc , người
trên Thủ đô , hết thảy đề tự hào về Thủ đô thân yêu của chúng ta , biết bao vui
buồn , kỷ niệm và tình yêu .
Tôi nhớ lại Nguyễn Huy Tưởng với những Tiểu thuyết “ Sống mãi với Thủ Đô “ và
Trong lòng Hà nội “ ___ tiểu thuyết như một anh hùng ca của thế hệ trẻ cha anh
chúng ta , những thanh niên thủ đô bất khuất , và như vậy nghĩ về Những người
ra đi chiến đấu từ Thủ đô và được về Thủ đô trong Bộ đội Việt Nam đã nối gót
được người xưa nhưng trên khắp mọi chiến trường dọc theo mảnh đất việt Nam dài
và hẹp với dải Trường Sơn trùng điệp hàng ngàn cây số từng đoạn uồn mình quanh
sát biển Việt Nam cũng làm nên nhiều huyền thoại trên rừng dưới biển .
Tôi về Thủ Đô từ khi là một Binh nhất Hải quân và rồi sau mấy năm là Trung sỹ
Hải quân với những lớp học ngắn ngày cả về Văn hóa ,cả về thể thao, cả về kỹ
thuật vài tháng , cả trong hòa bình , cả trong chiến tranh .Hà nội gần 10 năm
trong nhiệm vụ Sỹ quan kỹ sư kỹ thuật quân sự thì những kỷ niệm ký ức về công
việc , bạn bè không phai cho dù năm tháng đã thay màu sắc : chiến tranh , hòa
bình . kinh tế , quân sự trong một thời đại nào cũng thế mà thôi .
Có lẽ , tình bạn , tình đồng chí , tình thày trò của chúng tôi trong Khóa đầu
của Học viện Kỹ thuật Quân sự hôm nay có đặc thù riêng không khóa nào , trường
nào , thời nào có ; bởi đó là tình đồng chí từ khắp miền Bắc trong 3 quân chủng
khoác ba lô rời vị trí chiến đấu tập luyện về trường trong niềm tin của Bộ quốc
phòng và đồng đội cùng nhau cùng một tuổi thanh xuân đầy ước mơ hoài bão cống
hiến cho đất nước đang hừng hực khí thế cách mạng của nửa sau thế kỷ thứ 20 ,
tình cảm đồng đội , bạn bè bắt nguồn từ những người lính không có gì ngoài tình
yêu và ước vọng , cho nên vô tư đến ngây thơ trước cuộc sống đời thường .
Những năm cuối của khóa học tốp cùng tiểu đội tôi ở Vĩnh yên có “ Ngô Ngọc Vĩnh
, Nguyễn Ánh Sáng và Nguyễn Văn Đáo ; tình đồng đội trong những năm đèn sách
còn theo tôi trong những năm sống trong lòng Hà Nội.
Chuyện xem ra chẳng có gì đáng kể , nhưng tôi nghĩ đó là những mẩu đới mất mát
và thiệt thòi trong một đất nước như nước ta và với người lính , người sỹ quan
quân đội như một hy sinh thầm lặng mà có chiến công cũng dựng lên trên những
đau khổ nơi hậu phương trên tay người vợ hiền và bé thơ ..
Khi ra trường và trước khi đi B Vĩnh cưới Dương Vân Kim con gái thứ trưởng
Dương Bạch Liên tôi không dự và cũng không hay , chỉ biết họ yêu nhau khi tôi
và Vĩnh cùng đóng quân ở Văn Tiến , trong một cái buồng đầu trái chỉ vừa đủ cho
2 phản cá nhân tôi và Vĩnh để cùng nhau đèn sách , có khi cùng về Hà nội và
chúng tôi qua nhà Vân Kim ở 67 Nguyễn Thái Học .
Năm 1971 hoặc đầu 1972 gì đó . Kim sinh con trai đầu lòng khi Vĩnh đang trong
chiến trường Nam bộ , tôi không biết ở đâu . Một chủ nhật tôi đến thăm Kim và
bé con Vĩnh thì thật mừng vì bé giống Vĩnh hơn một tượng do một nghệ sỹ ưu tú
tạc cho .
Tưởng như sẽ là tốt đẹp và hạnh phúc với một cháu ngoại của một Thứ trưởng thứ
nhất ; nhưng thực tế phũ phàng đã đảo ngược niềm hạnh phúc kia .
Chừng hơn 4 tháng sau cũng một ngày chủ nhật tôi ghé qua 67 Nguyễn Thái Học để
thăm Bé con Vĩnh ; nhưng thật không ngờ , chỉ vì thiếu sữa mẹ , phải dung sữa
bò cho ăn ngoài , nhưng sự vô trách nhiệm của bảo mẫu nhà trẻ , vì khi đó Kim
phải đi làm trong xí nghiệp Ô-Tô 1 . 5 Hà Nội . Bé bị đi ỉa mất nước và lìa
khỏi cõi trần trong khi người thân sinh xa biền biệt nơi quân ngũ .
Nhưng số phận con người còn nghiệt ngã hơn với Vĩnh và Kim khi Bé trai thứ 2 .
Một sáng đầu tuần trước khi đến giờ làm việc , chúng tôi ngồi chuyện phiếm
,uống trà bốn hào rưỡi – chè nước văn phòng thuở ấy ; nói chuyện về bạn bè tôi
, Đào Kim Chi Kỹ sư ô tô bách khoa khóa 7 , nhân vì nhắc đến việc đến thăm nhà
Vĩnh, Kim khi đã chuyển về Lê Phụng Hiểu – Hà Nội , Chi nói : Cháu nội Ông Ngộ
chết rồi còn đâu ! , Chi biết , vì Chi không ở trong doanh trại cơ quan mà vì
được ở tại gia với bố là Vụ Trưởng ở bộ Tài chính cùng bộ mà bố Vĩnh là
VụTrưởng . Nghe tin ấy tôi bán tín bán nghi , ngay sau đó , chủ nhật nghỉ , tôi
đến Lê Phụng Hiểu và Kim nói rằng cháu cũng bị mất nước và bỏ đi . Thật bất ngờ
, vài tháng trước đó tôi đến chơi Bé đã đâu 1 năm tuổi, trắng và đẹp .
Trước khi về ở Lê Phụng Hiểu ,Tôi có đến chơi với Vĩnh ở Nguyễn Thái Học khi
vừa ở đơn vị xa về Hà Nội ; từ đó đến nay chúng tôi bặt tin do tôi ít có dịpđi
ra phố Hà nội mà tập trung làm việc trong cơ quan và ngày nghỉ lại phải đạp xe
về Nam Định thăm nom vợ con và mẹ già , rồi tồi về Nam Định khi mấy cơ quan bộ
Ngoại thương và Ty Lao động Hà nội không chắc cho cả vợ con tôi về Hà Nội và
rồi về hẳn Nam Định sau khi Tổng cục kỹ thuật xem xét và đồng ý cho chuyển
ngành sau khi hai anh điều phối Cán bộ đồng cấp với tôi , một phụ trách cán bộ
khu vực Hà Nội , một phụ trách Cán bộ Khoa học kỹ thuật , thuyết phục tôi không
chuyển ngành , Tôi thấy trong việc điều động đi nơi khác là một điều động đầy
tính cá nhân, tiêu cực chất đầy nên dự tính xin về nơi khác Tổng cục kỹ thuật ,
nhưng rồi tôi có quyết định của Tổng cục – Ban chính sách đồng ý , tôi về hẳn
Nam Định sau 4 năm đeo quân hàm trung úy ở Hà Nội .
. TRONG 12 NGÀY ĐÊM
HÀ NỘI DƯỚI BOM MỸ
Cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc Việt Nam của Mỹ đang ở gian đoạn ác liệt
nhất thì chúng tôi trong trường , khi tốt nghiệp , có thời gian bọn mỹ buộc
phải tuyên bố “ném bom hạn chế “ bởi vì càng dung nhiều phi cơ pháo đạn dội
xuống miền Bắc càng thiệt hại gấp bội mà không khuất phuck nổi Việt Nam ta ,
còn bị thế giới lên án . trong thời gian mỹ ném bom hạn chế trên một số tuyến
đường phia bắc vào Nam Đoàn quân của các kỹ sư quân sự khóa 1 như Lê Tùng Sơn
đã viết : dong cờ sao vàng trên nền xanh đỏ tranh thủ đi ngày đi đêm vào sâu
trong chiến trường Đông Nam Bộ , còn trong lòng Thủ đô Hà Nội nhân dân yên ổn
và tranh thủ những ngày hòa bình để sản xuất và xây dựng kinh tế , Đường phố
tương đối thanh bình và Tôi tranh thủ tối đa thời gian để học
thêm , đọc thêm các giáo trình Đại học phục vụ cho nhiệm vụ thiết kế , cũng như
học tại chức Tiếng Anh trong trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội , đồng
thời học lại phần đầu phát âm tiếng Pháp đã học từ thời Pháp thuộc và ngay sau
hòa bình 1954 ở Nam Định . Công tác , học tập bấy giờ tuy vất vả , hiếm thời
gian nhưng là niềm đam mê của chúng tôi trong lòng Hà Nội .
Nhưng chẳng bao lâu . Tháng 12 năm 1972 , thua trên chiến trường Nam việt , Mỹ
dùng Máy bay chiến lược B52 naém bom tàn phá Thủ Đô , Mỹ nhằm mục tiêu san bằng
thủ đô Hà Nội để giành thế thắng trong hội nghị Paris họp giữa Mỹ và 2 ngoại
giao đoàn Bắc Nam , nhưng thực tế đã đảo ngược mong muốn của Mỹ . tôi không nhớ
trong ngày thứ mấy của 12 ngày đêm Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống .
Hôm đó khoảng đêm về sáng , còi áo động của Thành 0phố rúc một hồi dài báo động
Máy bay bay bào ném bom tHà Nội . Tôi đang ngủ trong phòng vừa làm việc vừa ngủ
của bộ phận \quân lực Phòng tổ chức kế hoach cục , bên ven Hồ Tây , nghe còi tôi
chạy vào hầm để ngồi ngủ tiếp , hầm chữ A bằng tra phủ dầy lớp đất . Hầm tôi
trú được 3 người ngay đầu hồi ngoài sân . Lúc đầu chúng tôi nghĩ Bọn Mỹ sẽ
không ném xuống rìa Hồ Tây nơi cơ quan Cục nên tôi buồn ngủ,vào ngồi trong hầm
ngủ gục , còn một số đồng chí ngó xem pháo và Tên lửa của ta bắn rực đỏ bầu trồ
Thăng Long .
Thình lình , tôi hoàn toàn vô cảm trong phần giây như mình không có trên đời ,
sau đó tôi bừng tỉnh và thấy trước mặt tôi là hai đồng chí đạp nhau nằm trên
vũng máu , một người cạnh tôi máu chảy tứ đầu xuống vai ; thế là hầm tôi trú ẩn
dính Tên lửa CỦA PHI CƠ MỸ . ngay lúc đó cũng vừa khoảnh khắc im tiếng bom đạn
, tuy chưa báo yên ; tôi nhảy ra khỏi hầm kêu cấp cứu , nhưng sân cơ quan lặng
ngắt như bãi chiến trường . , dăm phút sau chúng tôi goi xe con đưa đồng chí bị
trọng thương vào Quân y viện 108 cấp cứu . Tôi dục lái xe và vài đồng chí đi
theo , cùng tôi vừa đi vừa cầm máu để nhanh chóng vào Viện . May thay người
trọng thương cứu được , chỉ phải lấy đi một con mắt và bó vỡ một bên vai . còn
tôi hoàn toàn không dính mảnh nào >
Trời sáng , chúng tôi dọn dẹp và tôi xem thấy ngay sau lưng chỗ tôi ngồi chỉ
còn không đầu 2cm đất nữa là sập hoàn toàn ngay sau lưng tôi ., còn có những
mảnh vuông như hạt ngô cắm đầy gáy sách của tôi nơi đầu giường và màn chăn
thủng lỗ chỗ khắp nơi .
Qua lần đó __ Hầm tôi bị đạn từ đâu đó trong trận không kích của Mỹ đợt bắn phà
bằng đạn bom tọa độ tức là theo tọa độ mà cường kích không kể mụ tiêu dưới mặt
đất , tôi cẩm nhận được một phần giây đồng hồ, cái th ời gian mà thình lình
mình biến mất .
Sau hôm bị bom các phòng đều ăn ở và làm việc trong hầm chữ A rải rác , , khi
bom B52 dữ dội , vào ban đêm , phải trú ẩn trong hầm Bêtông đã xây trước đó ;
nhưng an toàn tính mạng vẫn không tuyệt đối mà ngược lại tiếng máy bay , bom
đạn nổ lộng óc,
nhức tai khi ngồi trong hầm Bê Tông khó chịu nổi .
Sau một tuần lễ đánh phá của B52 , chúng tôi có lệnh , những Cán bộ không cần
giải quyết công việc thường nhật cấp phát vật tư hoặc kế hoạc quân lực thì đi
sơ tán xuỗng các cơ sở ,đồng thời giúp cơ sở trong công việc hàng ngày .
Tôi được phái đến sơ tán ở nhà máy T-606 năm trước tôi đã được cục biệt phái
xây dựng ở đó và giúp đỡ phòng kỹ thuật , giám đốc trong những khó khăn , vướng
mắc về kỹ thuật .
Nhưng cũng nơi đây chẳng mấy an toàn vì theo đường chi bay thí cách bến Phà
Khuyến Lương không xa là mấy , tôi ẩn trong hầm đất còn nhân dân sợ hãi , họ bỏ
chạy hết ra hầm trú ẩn ngoài cánh đồng .
Những ngày bom B52 hà nội, tôi không có tin tức gì về các cuộc ném bom của Mỹ ;
nhưng nhờ chiếc Radio tự lắp gì đó của chủ nhà nơi tôi ở sơ tán nên ngay sau
khi kết thúc ném bom và tuyên bố chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc là tôi lên
xe đạp về Cơ quan Cục .
. Sau những ngày Hiệp định đìnhchiến
Paris được ký kết tôi lại tiếp tục về trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà nội
để học tiếp năm thứ 4 đại học anh văn tại chức và lớp tiếng Pháp của Hà Nội .
Sau giải phóng miền nam 30/4/1975 xong xây dựng khu B – của T B T Lê Duẩn Tôi
chuyến sang phòng Quản lý kho và làm nhiệm vụ quy hoạch và quản lý kỹ thuật các
kho thuộc Cục cũng như thiết kế các phương tiện bốc dỡ trong kho theo mục tiêu
giảm bớt sức lao động chân tay và giảm lao động trong kho cùn với việc nghiên
cứu quản lý vật tư theo mã hóa . .
Cho nên tôi hay phải đi công tác xuống các kho và đoàn vận tải , bởi thế việc
học ngoại ngữ không bảo đảm thường xuyên và ngày thi lấy bằng đại học tôi không
có mằt ở Hà Nội .
Những năm công tác và làm việc ở Hà Nội tôi chỉ gặp lại dăm bạn đồng đội thân
thiết trên phố thủ đô , rồi dần không gặp được . Vả chăng , những ngày sống
trong lòng Hà Nội vì bận rộn với việc thiết kế thi công và học , đọc sách , lại
còn đạp xe về Nam Định nên liên lạc của tôi với đồng đội khóa một dần mất .
Mẩu chuyện
bên lề
Mùa hè , kỳ nghỉ hết học kỳ là mùa nghỉ ngơi của sinh viên các trường Đại
học , nhưng chúng tôi , những học viên trường đại học kỹ thuật quân sự hầu như
không được nghỉ , cũng chỉ như là những ngày sau chiến dịch mà thôi . Bởi vậy ,
hầu hết đều được bố trí đi lao động ,hoặc là lo cho cơ sở vật chất năm học tiếp
theo , hoặc dã ngoại đi giúp nhân dân , cũng có thể đi phục vụ ở các đơn vị bảo
vệ miền Bắc trên các trận địa ; chúng tôi có số ít được lưu lại ở nhà để thực
tập gọi là “nghiên cứu “ .
Xóm làng yên tĩnh , đồng đội đi lao động , dã ngoại đâu đó , chừng dăm bảy
người chúng tôi được bộ môn Sức Bền Vật liệu , bấy giờ do Trung uý -- Giảng
viên tổ trưởng bộ môn sức bền vật liệu __ Nguyễn Khoa Thịnh tập họp để hướng
dẫn học, kết hợp với nghiên cứu về một số vấn đề trong Sức bên vật liệi như :
ứng suất trong các ống dầy và các bình vỏ mỏng cũng như trạng thái ứng suất
khối , chúng là những vấn đề không có trong chương trình đại học của bất kỳ
trường đại học nào lúc bấy giờ . Tôi chỉ còn nhớ , hình như trong nhóm gọi là
nghiên cứu đó có Lê Kinh Tuyến , Nguyễn Đình Thắng , Nguyễn Đình Năng , Lê Công
Sơn ,…( sau này chúng tôi được phân công học ngành Đạn , Ô tô- tăng xích và
Trạm nguồn điện ) được chỉ định và mỗi người một đề tài khác nhau và có cũng
chỉ những phần mở đầu cho một đề tài nghiên cứu hoàn thiện mà thôi , nhưng nó
đòi hỏi phải tập trung tư tưởng và trí tuệ, học thêm cái gọi là “vạn sự khởi
đầu nan “ mà “vạn sự khởi đầu nan “ thì chính Kar-Mark cũng phải thừa nhận như
trong những lời đầu của cuốn “TƯ BẢN “ của Ông , có thể không là nan giải .
Bắt đầu tôi được phân công chứng minh Biểu thức toán học cuối cùng của Trạng
thái Ưng suất khối biểu diễn trên Vòng tròn MORH mà mhư anh Thịnh nói : không
có cuốn sách hoặc tài liệu nào có trong tay đã chứng minh nó .( trong chương
trình học , chúng tôi cũng không học và không có bài tập về trạng thái ứng suất
này , trên một số giáo trình sức bền cũng không đề cập đền nó và hầu hết các
sáh bài tập cũng không có bài tập về nó , tôi về Hà nội chỉ tìm được ở hiệu
sách khoa học kỹ thuật một cuốn bài tập sức bền bằng tiếng Nga có Viết Biểu
thức Toán cho trạng thái ứng đó để làm bài tập mà thôi .
Bấy giờ , quần áo mùa hè của chúng tôi không được đẹp như hôm nay mà nó xuyềnh
xoàng đến nhọ nhem , bởi đúng lúc quân đội ta gặp khó khăn nhất trong quân nhu
, hậu cần , nhất là lại không đeo quân hàm học viên khi về Hà Nội dưới trời hè
của Thủ đô .
Chúng tôi , quân phục không quân hàm đội mũ không có quân hiệu như những anh
nhà quê ra tỉnh .
Tôi và Lê Kinh Tuyến vào hiệu sách Ngoại văn khoa học kỹ thuật mà trên quầy
sách , các tầng sách hầu như chỉ có Sách tiếng Nga , Tôi chỉ và nói cô bán sách
cũng còn trẻ như chúng tôi lấy một quyển trên tầng giá sách có bìa cứng và dày
; Cô ấy bảo chúng tôi :
__ Quyển ấy nhiều chữ lắm đấy các anh ạ !
Tuyến vốn là một tay mà tôi thường vui coi như con cháu của Đại văn hào hài
,viết truyện cho thanh thiếu niên và nhi đồng --Truyện “trẻ con “ _An-Đec-Xen ,
Tuyến bèn chỉ tay vaò một cuốn sách trước mặt có mấy chữ cái và nói :
__Vậy thì cho tôi xem quyển sách có thật đại to kia kìa .
Cô hàng sách lẳng lặng không nói gì nữa mà với tay lấy cho chúng tôi cuốn sách
tiếng /nga muốn xem hoặc mua .
Đi trên ngã tư Tràng Tiền hai chúng tôi cuòi vui vì câu nói hài mà xúc tích của
Tuyến .
Trong nhưng ngày vừa học vừa nghiên cứu ngắn ngủi sau chính khoá , dưới trời
bom đạn miền trung và Nam bộ, bấy giờ , giữa những lúc nghỉ khi Anh Thịnh xuốn
chỗ chúng tôi tập trung học , ngồi giải lao trò chuyện thân tình như những an
hem , đồng chí đi trước ; Anh Thịnh nói chuyện với chúng tôi về “Tính Đối xứng”
trong khoa học , và tôi nhớ mãi chuyện anh kể :
ại ý là ; có một lần , một nhà khoa học nghiên cứu về Nguyên tử và Năng lượng
Nguyên tử sang làm việc với các nhà khoa học V. N trong lĩnh vực nay , nói
chuyện ngoài lề và hỏi nhà khoa học của ta((hình như ông Nguyễn ĐiìnhTứ)) đang
nghiên cứu về tính đối xứng ;
bỗng nhiên Nhà khoa học Mỹ hỏi :
__Ông là người nghiên cứu về “Đối xứng “
Ông thấy thế nào về sự đối xứng khi mỹ xuống thang trong ném phá hoại miền Bắc
mà miền Bắc không rút quân khỏi miền Nam ???
Nhà khoa học của ta trả lời :
__Ông cũng là người nghiên cứu về đối xứng , tôi cũng là người nghiên cứu về
đối xứng, vậy hẳn ông biết rõ ; Tiền đề không đối xứng, thì kết quả cũng không
thể đối xứng .
Và nhà khoa học Mỹ không thể nói gì thêm ! ?
Mãi sau này khi đã nghỉ hưu lâu lắm , xem trên truyền hình VTV tôi mới biết
giám đốc hoc viện kỹ thuật quân sự V N là Tướng Nguyễn Khoa Thinh năm nào , khi
đó anh đã béo hơn hồi còn Trung uý .
Có lẽ như anh Nghiêm Sỹ Chúng nói đúng : chuyện vụn vặt nhưng không quên và gợi
lại một thời đáng nhớ . ./.
Người
soạn thảo
Đỗ Đăng Đích Khóa 1
Đại học kỹ thuật quặn V.N
C213
Các bài viết trên đã đăng
lên các trang Cộng đồng cuấu khi các bạn đã đồng ý và các bài viết
đã có nhiều lượt xem , tiếp cận trên
Blogger , trang cá nhân của Đỗ Đăng Đích ,
Tìm kiếm on Line on Google : Đỗ Nguyễn Thiện Nam , or masterdich or
Đăng Đích Đỗ
Đỗ Đăng Đích Named Đỗ Nguyễn
Thiện Nam
www,Bloggerspotvn.com/Đỗ
Nguyễn Thiện Nam
Phone Number 0917254041
Namdinh
City Đ6—P 14 VănMiếu
Trần Huy Liệu
Confidential Page 82 11/13/2015
F:\NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN Tổng Hợp.doc
Page 82 of 83
Windows 8.1
Offices 2003
Photographed
and made and Taken By Đỗ
Đăng Đích .
Thanks Alot
NỘI DUNG
HỒI
KÝ
Nguễn Thanh Sơn ,Nghiêm Sỹ
Chúng Lê Tùng Sơn
Đỗ Thành Hưng , Đỗ Đăng
Đích
NGUYỄN THANH SƠN
BÂY GIỜ EM Ở ĐÂU.
ĐỖ ĐĂNG ĐÍCH
THỜI GIAN TRÔI
*Truyện
Hồi ký về ngày 5 tháng 8 --1964
TỪ NHÀ TRƯỜNG RA BIÊN GIỚI
Hồi ký của Thiếu Tướng Nghiêm Sỹ ChúngRút trong
Tập 1
NHỮNG NGÀY ĐẦU Ở
KHO K56 -----Kho Gốc Me
Đỗ Đăng Đích
Hồi ký ____________
NHỮNG NGÀY Ở
CỤC VẬT TƯ
TCKT
Truyện Hồi Ký
Đỗ Thành Hưng
“SỸ QUAN BINH NHÌ"
Ký ức thời gian .
Đỗ Đăng Đích
Đỗ Tành
Hưng HỒI KÝ
CHÍNH TRỊ VIÊN CỦA TÔI
PHẦN KẾT-GẶP LẠI BẠN BÈ
Nguyễn Thanh Sơn
HỒI KÝ
CHUYỆN DÔNG DÀI
NGÀY TẾT
ĐạiTá Lê Tùng Sơn Ô TÔ –TĂNG XÍCH Bài từ Biên Hoà
chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
LÊ TÙNG SƠN
Bài từ Biên Hoà chuyển qua
Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
Đỗ
Đăng Đích
Trên Đất THỦ ĐÔ
Đ ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
KHÔNG ĐỀ
Mẩu chuyện bên lề
Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường70l
ĐỖ ĐĂNG ĐÍCH
Trên Đất THỦ ĐÔ
NHỚ NHỮNG NGÀY
BÊN
BỜ HỒ TÂY
Y ên B ình v à
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
KHÔNG ĐỀ
. TRONG 12 NGÀY ĐÊM
HÀ NỘI DƯỚI BOM MỸ
Mẩu chuyện bên lề
Đỗ Đăng Đích Named Đỗ Nguyễn Thiện Nam
Namdinh
dang dich Page 3 11/13/2015
Đỗ Đăng Đích Khóa 1 Đại học kỹ thuật quặn V.N C213
CƯU HỌC
VIÊN BIA MAU HUNG SON 2
www,Bloggerspotvn.com/Đỗ Nguyễn Thiện Nam
Phone Number 0917254041
Chế bản -- Đỗ Đăng
Đích ___
WINDOWS
8.1 at home
namdinh city October 2015